Hoàng Thúy Doan
Giới thiệu về bản thân
Nguyễn Tuân là nhà văn lớn của văn học Việt Nam hiện đại, nổi tiếng với phong cách nghệ thuật tài hoa, uyên bác và cái nhìn độc đáo về con người cũng như thiên nhiên đất nước. Tùy bút Người lái đò sông Đà là kết tinh tiêu biểu cho phong cách ấy, trong đó con sông Đà không chỉ hiện lên dữ dội, hung bạo mà còn mang vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng đầy quyến rũ. Trong đoạn trích trên, sông Đà trước hết hiện ra với vẻ đẹp tĩnh lặng, nguyên sơ và cổ kính. Không gian ven sông “lặng tờ”, “tịnh không một bóng người”, khiến dòng chảy như ngưng đọng qua bao thế kỉ “từ đời Trần đời Lê”. Những hình ảnh nương ngô non, cỏ gianh đẫm sương, đàn hươu hiền lành cúi đầu gặm cỏ tạo nên một bức tranh thiên nhiên trong trẻo, tinh khôi, gợi cảm giác hoang dại mà thanh bình. Đặc biệt, các so sánh giàu chất tạo hình như “bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử”, “hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích” đã đưa cảnh vật vượt khỏi thực tại, mang chiều sâu lịch sử và màu sắc huyền thoại. Sông Đà còn hiện lên đầy chất thơ và tâm hồn khi được Nguyễn Tuân nhân hóa như “một người tình nhân chưa quen biết”, “lững lờ như nhớ thương”, “lắng nghe những giọng nói êm êm của người xuôi”. Bằng ngôn ngữ điêu luyện, giàu nhạc điệu, liên tưởng độc đáo, Nguyễn Tuân đã khắc họa sông Đà như một sinh thể sống động, mang vẻ đẹp dịu dàng, trữ tình, để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc
Nguyễn Du là đại thi hào dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới, nhà thơ có trái tim nhân đạo sâu sắc, luôn trăn trở trước những kiếp người đau khổ trong xã hội cũ. Văn tế thập loại chúng sinh (còn gọi là Văn chiêu hồn) là một sáng tác chữ Nôm xuất sắc của ông, thể hiện tấm lòng xót thương bao la dành cho những linh hồn bơ vơ, bất hạnh sau những biến động dữ dội của lịch sử và xã hội. Đoạn trích trên đã dựng lên một bức tranh hiện thực đầy ám ảnh về số phận con người. Đó là người lính bị “mắc vào khóa lính”, bỏ lại mái ấm gia đình để “dãi dầu nghìn dặm”, đối mặt với cái chết nơi chiến trận khi “mạng người như rác”. Đó còn là những người phụ nữ “buôn nguyệt bán hoa” lỡ làng một kiếp, sống trong cô độc, không nơi nương tựa khi về già. Những kẻ hành khất “nằm cầu gối đất”, sống nhờ lòng thương hại của thiên hạ rồi chết vùi nơi đường quan càng tô đậm nỗi đau thân phận. Các hình ảnh như “nước khe cơm vắt”, “ngọn lửa ma trơi”, “hớp cháo lá đa” vừa mang tính tả thực vừa nhuốm màu sắc tâm linh, gợi nên không khí bi thương, thê lương của cõi đời lẫn cõi âm. Qua đó, Nguyễn Du bộc lộ tinh thần nhân đạo sâu sắc, cảm thương cho mọi kiếp người bị chà đạp, đồng thời kín đáo lên án xã hội phong kiến bất công. Đoạn trích đạt giá trị nghệ thuật đặc sắc nhờ thể văn tế trang trọng, giọng điệu thống thiết, nghệ thuật liệt kê kết hợp hình ảnh biểu tượng, ngôn ngữ Nôm giàu sức gợi, góp phần khẳng định tài năng và tấm lòng nhân ái lớn lao của Nguyễn Du.
Vương Trọng là nhà thơ trưởng thành trong chiến tranh, thơ ông giàu chất suy tưởng, lắng sâu và thấm đẫm tinh thần nhân văn. Bài thơ “Trò chuyện với nàng Vọng Phu” đã làm mới hình tượng Vọng Phu quen thuộc trong văn hóa dân gian bằng một cách nhìn hiện đại, giàu chiều sâu cảm xúc. Nàng Vọng Phu hiện lên trong tư thế đứng chờ giữa mưa gió, mây trời, một không gian rộng lớn, hoang vắng, qua đó gợi lên nỗi cô đơn, lẻ loi và bền bỉ đến tận cùng của người vợ chờ chồng. Thời gian chờ đợi của nàng kéo dài “mấy ngàn năm”, song hành cùng những biến động lịch sử “binh đao, dâu bể”, khiến nỗi đau cá nhân hòa nhập vào số phận dân tộc. Đặc biệt, hình ảnh “hóa đá” mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc: nàng không chỉ hóa đá thân xác mà còn “hóa đá niềm tin”, “hóa đá nỗi cô đơn”, thể hiện sự thủy chung son sắt và sức chịu đựng phi thường. Cao đẹp hơn, nàng chấp nhận hóa đá để “những người vợ muôn đời thoát khỏi cảnh chờ mong”, biến nỗi đau riêng thành sự hi sinh mang ý nghĩa nhân văn rộng lớn. Thành công của bài thơ còn nằm ở nghệ thuật đối thoại kết hợp độc thoại nội tâm, giọng thơ trầm lắng, hình ảnh giàu tính biểu tượng và cảm hứng suy tưởng sâu xa, qua đó khắc họa nàng Vọng Phu như một biểu tượng bất tử của tình yêu, đức hi sinh và vẻ đẹp người phụ nữ Việt Nam.
Nguyễn Bính là nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới, được mệnh danh là “thi sĩ của làng quê Việt Nam” với hồn thơ mộc mạc, chân chất, thấm đẫm hương đồng gió nội. Bài thơ “Chân quê” là một trong những sáng tác tiêu biểu thể hiện rõ phong cách ấy. Qua hình tượng nhân vật “em”, Nguyễn Bính đã gửi gắm nỗi niềm xót xa, nuối tiếc trước sự đổi thay của vẻ đẹp thôn quê truyền thống khi con người chịu ảnh hưởng của lối sống thị thành.Nhân vật “em” trong bài thơ hiện lên qua sự đối lập giữa “hôm qua” và “hôm nay”. Chỉ một chuyến “đi tỉnh về” đã khiến “em” thay đổi từ trang phục đến phong thái. Những hình ảnh như “khăn nhung, quần lĩnh”, “áo cài khuy bấm”gợi lên vẻ hào nhoáng, tân thời nhưng lại khiến “anh” đau xót bởi nó làm phai nhạt đi nét đẹp thuần khiết vốn có. Trái lại, những hình ảnh quen thuộc của người con gái quê xưa như “yếm lụa sồi”, “dây lưng đũi”, “áo tứ thân”, “khăn mỏ quạ” được nhắc lại với giọng điệu tiếc nuối, nâng niu, cho thấy trong mắt “anh”, đó mới là vẻ đẹp chân chính, hài hòa với không gian làng quê.Không chỉ là câu chuyện tình yêu đôi lứa, hình tượng “em” còn mang ý nghĩa biểu tượng cho làng quê Việt Nam đang đứng trước nguy cơ bị lai căng, mất gốc. Câu thơ “Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều” khép lại bài thơ như một tiếng thở dài buồn bã, thể hiện nỗi lo lắng sâu sắc của nhà thơ trước sự phai nhạt của bản sắc truyền thống. Thành công của bài thơ còn nằm ở nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ dân dã, giọng điệu thủ thỉ tâm tình, hình ảnh giàu tính biểu tượng và kết cấu lặp vòng đầu – cuối, tạo dư âm man mác, day dứt trong lòng người đọc. Qua nhân vật “em”, Nguyễn Bính đã thể hiện một cách tinh tế tình yêu tha thiết đối với vẻ đẹp chân quê và những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.