Nguyễn Phương Thảo
Giới thiệu về bản thân
- Quy mô nền kinh tế: Hoa Kỳ sở hữu GDP lớn nhất thế giới, chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng GDP toàn cầu, tạo ra thị trường tiêu dùng nội địa khổng lồ và sức mua cao.
- Tiên phong về Công nghệ và Đổi mới: Là trung tâm của các tập đoàn công nghệ hàng đầu, dẫn đầu về nghiên cứu, phát triển (R&D) và ứng dụng công nghệ mới.
- Vai trò của Đồng Đô la: Đồng đô la Mỹ (USD) là đồng tiền dự trữ quốc tế chủ chốt, được sử dụng rộng rãi trong giao dịch thương mại và tài chính toàn cầu.
- Năng lực Sản xuất và Tài chính: Sở hữu nền công nghiệp hiện đại, đa dạng cùng hệ thống tài chính, ngân hàng phát triển bậc nhất thế giới.
Hiện nay, Liên bang Nga có 12 vùng kinh tế, trong đó, các vùng kinh tế quan trọng là: vùng Trung ương, vùng Trung tâm đất đen, vùng U-ran và vùng Viễn Đông. Mỗi vùng có những đặc điểm nổi bật về hoạt động kinh tế. - Vùng Trung ương
+ Nằm ở trung tâm của phần lãnh thổ Liên bang Nga thuộc châu Âu.
+ Chiếm khoảng 3 % diện tích và 20 % số dân cả nước.
+ Là vùng kinh tế phát triển nhất, chiếm hơn 1/3 GDP của cả nước.
+ Ngành công nghiệp phát triển: chế tạo máy, hóa chất và công nghiệp dệt may.
+ Sản phẩm nông nghiệp tiêu biểu: cây lanh, khoai tây, rau, bỏ sữa.
+ Sân bay quốc tế lớn là Đô-mô-đê-đô-vô. Trung tâm du lịch quan trọng là Mát-xcơ-va.
+ Trung tâm công nghiệp lớn: Mát-xcơ-va, Ni-giơ-nhi Nô-gô-rốt.
- Vùng Trung tâm đất đen
+ Nằm ở phần lãnh thổ Liên bang Nga thuộc châu Âu, tiếp giáp với U-crai-na, vùng Trung ương và vùng Von-ga
Vùng Viễn Đông: Nằm ở phía đông bắc châu Á, giáp Thái Bình Dương, có cảng biển quan trọng.Giàu tài nguyên thiên nhiên (khoáng sản, hải sản, lâm sản), nhưng khí hậu khắc nghiệt, dân cư thưa thớt.
Phát triển mạnh các ngành khai thác tài nguyên (khai thác khoáng sản, thủy sản, lâm nghiệp) và công nghiệp năng lượng.
Có vị trí chiến lược trong giao lưu kinh tế với các nước châu Á - Thái Bình Dương.
a) Đặc điểm dân cư Nhật Bản
+ Nhật Bản có dân số đông, với 126,2 triệu người (năm 2020), đứng thứ 11 trên thế giới. Trong những năm gần đây, dân số của Nhật Bản đang có xu hướng giảm.
+ Tỷ lệ gia tăng dân số rất thấp.
+ Nhật Bản có cơ cấu dân số già tỉ suất gia tăng dân số tự nhiên rất thấp, thậm chí ở mức âm.
+ Về thành phần dân cư, người Nhật Bản chiếm khoảng 98% dân số.
+ Mật độ dân số trung bình của Nhật Bản cao 338 người/km2 (2020). Dân cư phân bố không đồng đều, tập trung chủ yếu ở các thành phố và vùng đồng bằng ven biển.
+ Nhật Bản có mức độ đô thị hóa cao với 92% dân số sống trong các thành thị. Nhật Bản có nhiều đô thị nối liền với nhau tạo thành các vùng đô thị như: ba vùng đô thị Can-tô, Chu-ki-ô và Kin-ki chiếm tới 60% số dân Nhật Bản.
b)
Cơ cấu dân số già mang lại nhiều thách thức lớn cho Nhật Bản:Về kinh tế:
Thiếu hụt nguồn lao động, đặc biệt là lao động trẻ, làm tăng chi phí nhân công và giảm sức cạnh tranh.
Gây áp lực lớn lên ngân sách quốc gia do phải chi trả nhiều cho hệ thống phúc lợi xã hội, lương hưu và chăm sóc sức khỏe người cao tuổi.
Về xã hội:
Tăng áp lực lên hệ thống y tế và dịch vụ điều dưỡng cho người già.
Dẫn đến tình trạng "cô đơn" ở người già gia tăng và thay đổi cấu trúc gia đình.
Mặt khác, chất lượng dân cư cao với trình độ học vấn và ý thức kỷ luật giúp giảm thiểu phần nào những thách thức này.Tập trung đông đúc ở các khu vực ven biển phía Đông, phía Tây, vùng Hồ Lớn và các thành phố lớn.
Thưa thớt ở các vùng núi, cao nguyên, và các khu vực nội địa thuộc miền Tây và trung tâm.
Xu hướng dịch chuyển dân cư chủ yếu từ các bang công nghiệp truyền thống ở Đông Bắc xuống phía Nam và sang phía Tây.
Ảnh hưởng của gia tăng dân số cơ học (chủ yếu là nhập cư) đến sự phát triển kinh tế – xã hội Hoa Kỳ:- Tích cực:
- Bổ sung nguồn lao động dồi dào, đa dạng, giúp giải quyết tình trạng thiếu hụt lao động ở một số ngành nghề và khu vực.
- Mang lại sự đa dạng về văn hóa, thúc đẩy sự sáng tạo và phát triển các ngành dịch vụ, thương mại.
- Góp phần tăng quy mô dân số, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm.
- Tiêu cực:
- Gây áp lực lên cơ sở hạ tầng (nhà ở, giao thông, y tế, giáo dục) ở những khu vực có đông người nhập cư.
- Tạo ra những thách thức trong việc quản lý xã hội, đảm bảo an ninh trật tự và sự hòa nhập giữa các cộng đồng dân cư khác nhau.
Hiện nay, Liên bang Nga có 12 vùng kinh tế, trong đó, các vùng kinh tế quan trọng là: vùng Trung ương, vùng Trung tâm đất đen, vùng U-ran và vùng Viễn Đông. Mỗi vùng có những đặc điểm nổi bật về hoạt động kinh tế.
- Vùng Trung ương
+ Nằm ở trung tâm của phần lãnh thổ Liên bang Nga thuộc châu Âu.
+ Chiếm khoảng 3 % diện tích và 20 % số dân cả nước.
+ Là vùng kinh tế phát triển nhất, chiếm hơn 1/3 GDP của cả nước.
+ Ngành công nghiệp phát triển: chế tạo máy, hóa chất và công nghiệp dệt may.
+ Sản phẩm nông nghiệp tiêu biểu: cây lanh, khoai tây, rau, bỏ sữa.
+ Sân bay quốc tế lớn là Đô-mô-đê-đô-vô. Trung tâm du lịch quan trọng là Mát-xcơ-va.
+ Trung tâm công nghiệp lớn: Mát-xcơ-va, Ni-giơ-nhi Nô-gô-rốt.
- Vùng Trung tâm đất đen
+ Nằm ở phần lãnh thổ Liên bang Nga thuộc châu Âu, tiếp giáp với U-crai-na, vùng Trung ương và vùng Von-ga.
+ Chiếm khoảng 1 % diện tích và 5 % số dân cả nước.
+ Có dải đất đen màu mỡ thích hợp cho trồng trọt.
+ Công nghiệp phục vụ nông nghiệp và luyện kim đen được chú trọng.
+ Có Khu bảo tồn thiên nhiên Đất đen trung tâm (là khu thảo nguyên đất đen nguyên sinh, được thành lập từ năm 1935).
+ Trung tâm công nghiệp lớn: Vô-rô-nhe-giơ.
- Vùng U-ran:
+ Nằm ở miền Trung và phía nam dây U-ran.
+ Chiếm khoảng 5 % diện tích và 13 % số dân cả nước.
+ Tài nguyên giàu có: rừng lá kim chiếm tới 40 % diện tích vùng, nhiều loại khoáng sản.
+ Công nghiệp phát triển, chủ yếu khai khoáng, luyện kim, hóa chất, cơ khí, khai thác và chế biến gỗ.
+ Nông nghiệp còn hạn chế, chủ yếu sản xuất khoai tây, rau, bò sữa.
+ Trung tâm công nghiệp lớn: E-ca-ten-rin-bua, Man-hi-tơ-goóc.
- Vùng Viễn Đông:
+ Nằm trên bờ biển Thái Bình Dương, kéo dài từ eo biển Bê-rinh đến phía bắc bán đảo Triều Tiên, phía tây giáp với vùng Đông Xi-bia.
+ Chiếm gần 40 % diện tích và 6 % số dân cả nước.
+ Giàu tài nguyên thiên nhiên, nhất là than và gỗ.
+ Các ngành kinh tế chủ yếu: khai khoáng, khai thác gỗ, đánh bắt và chế biến hải sản, đóng tàu, cơ khí.
+ Cảng biển lớn: Vla-đi-vô-xtốc, Ma-ga-đan,...
+ Là vùng hội nhập vào khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
+ Trung tâm công nghiệp lớn: Vla-đi-vô-xtốc.
Câu 1. Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật bé Em trong văn bản "Áo Tết".
Puskin đã từng viết : "Linh hồn là ấn tượng của một tác phẩm, cây cỏ sống được là nhờ ánh sáng chim muông, sống được là nhờ tiếng ca, một tác phẩm sống được là nhờ tiếng lòng của người cầm bút". Và nhà văn Nguyễn Ngọc Tư đã để lại tiếng lòng mình cất lên, để linh hồn tác phẩm neo đậu mãi trong trái tim bạn đọc về hình tượng nhân vật bé Em trong tác phẩm "Áo Tết" hiện lên là một con người tốt bụng, biết yêu thương, đồng cảm, chia sẻ với người khác. Trước hết nhân vật bé Em xuất hiện trong một gia đình khá giả, điều đó được thể hiện qua khi bé được mẹ mua cho bốn bộ quần áo vào dịp Tết : "Má tao mua cho đủ mặc từ mùng một tới mùng bốn, bữa nào cũng mặc đồ mới hết trơn". Chính từ yếu tố này đã tạo tiền đề cho tâm lý, hành động của nhân vật bé Em là người có tâm hồn trong sáng, hồn nhiên, vô tư, đáng yêu của trẻ thơ qua việc "cười tủm tỉm" khi được mẹ mua cho chiếc áo đầm hồng. "Tết này mình mà mặc cái áo đó đi chơi, đẹp như tiên cho mà coi", thậm chí còn muốn "khoe" với bạn bè để "lé con mắt luôn". Bé nghĩ và muốn chia sẻ với bé Bích, sau khi chia sẻ, thấu hiểu được hoàn cảnh của bạn thì "bé Em mất hứng hẳn, nó lựng khựng nửa muốn khoe, nửa muốn không", chính những chi tiết ấy đã hình thành nên phẩm chất cao đẹp của bé Em. Thật bất ngờ khi tới mùng một, mùng hai là bé Em đã không mặc chiếc áo đầm hồng mà "hai đứa mặc đồ hơi giống nhau, chỉ khác là bé Bích mặc có bâu sen, con bé Em thì mặc áo thun in hình con mèo bự". Cho thấy bé Em là một người tốt, biết yêu thương, chia sẻ, đồng cảm với bạn, sẵn sàng hy sinh niềm vui của mình để đổi lấy vì bạn. "Bé Em nghĩ thầm: mình mà mặc bộ đầm hồng, thế nào cũng mất vui. Bạn bè phải vậy chứ. Đứa mặc áo đẹp, đứa mặc áo xấu coi gì được, vậy sao coi là bạn thân". Thể hiện sự trưởng thành mà vô cùng tinh tế qua nhận thức và tình bạn chân thành. Có thể nói, nhân vật bé Em chính là đại diện cho tình bạn cao đẹp chân thành nhất và cũng là đối tượng để nhà văn gửi gắm đến độc giả về sự đồng cảm, yêu thương, chia sẻ giữa con người với nhau. Bên cạnh việc để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng người đọc về nội dung. Nguyễn Ngọc Tư còn rực rỡ trong việc thể hiện các khía cạnh nghệ thuật. Với giọng văn nhẹ nhàng và đầy chất Nam Bộ, tác giả đã khéo léo khắc hoạt nhân vật qua nhiều chi tiết đời thường, nhưng đậm tính biểu cảm giúp người đọc cảm nhận sâu sắc về tình bạn, ấn tượng bởi tình huống truyên độc đáo và hấp dẫn. Với ngôi kể thứ ba, người kể ngoài câu chuyện chứng kiến sự việc và kể lại, giúp cho câu chuyện trở nên chân thật, tạo sự tin cậy, tin tưởng, làm câu chuyện trở nên cuốn hút, hấp dẫn và khách quan hơn. Có thể nói, cuộc sống là nơi bắt đầu và cũng là nơi đi đến của văn chương. Bởi vậy, bằng việc xây dựng tình cảm nhân vật bé Em, tác giả Nguyễn Ngọc Tư đã góp phần thêm một tiếng nói, một quan điểm nghệ thuật đầy giá trị để nâng cao cái đẹp, để người gần người hơn.
Câu 2. Trong văn bản "Áo Tết", nhân vật bé Em nhận ra rằng tình bạn chân thành quan trọng hơn chiếc áo đầm mới. Từ câu chuyện ấy, hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bàn về việc cân bằng giá trị vật chất và giá trị tinh thần trong cuộc sống. Đồng thời, hãy đề xuất những việc làm cụ thể để xây dựng lối sống hài hoà, cân bằng giữa giá trị vật chất và tinh thần.
Trong cuộc sống hiện đại, con người không thể sống mà thiếu đi những giá trị vật chất bởi đó là nền tảng đảm bảo cho cuộc sống ổn định và tiện nghi. Tuy nhiên, nếu chỉ chạy theo vật chất mà quên mất giá trị tinh thần, con người sẽ dần đánh mất niềm vui, sự bình yên và tình yêu thương. Câu chuyện “Áo Tết” của Nguyễn Ngọc Tư đã gửi gắm một thông điệp sâu sắc: tình bạn chân thành quý giá hơn mọi món đồ đẹp đẽ. Từ đó, ta nhận ra rằng việc cân bằng giữa giá trị vật chất và giá trị tinh thần là điều cần thiết để sống hạnh phúc và có ý nghĩa.
Vật chất là những gì có thể đo đếm được: tiền bạc, của cải, quần áo, thức ăn… Nó giúp con người tồn tại và đáp ứng những nhu cầu thiết yếu. Còn tinh thần là những giá trị vô hình như tình yêu thương, lòng nhân ái, niềm tin, hạnh phúc hay đạo đức. Hai mặt ấy tưởng chừng tách biệt nhưng lại luôn song hành, bổ sung cho nhau. Nếu vật chất mang lại điều kiện sống, thì tinh thần giúp con người cảm thấy đáng sống. Một cuộc đời chỉ đầy ắp vật chất mà trống rỗng tình cảm thì chẳng khác nào ngôi nhà sang trọng nhưng lạnh lẽo, cô đơn.
Trong truyện “Áo Tết”, bé Em háo hức với chiếc áo đầm hồng mới niềm vui nhỏ bé của tuổi thơ. Nhưng khi nhận ra bạn mình, bé Bích, không có được điều ấy, Em đã chọn cách không khoe, thậm chí không mặc chiếc áo ấy để bạn không buồn. Hành động tưởng chừng giản dị mà chứa đựng biết bao nhân ái. Ở đó, giá trị tinh thần tình bạn, lòng thấu hiểu và sự sẻ chia đã vượt lên trên niềm vui vật chất. Bé Em trở nên “đẹp” hơn, không phải vì chiếc áo đầm hồng, mà vì trái tim biết nghĩ cho người khác.
Thế những trong xã hội hiện nay, nhiều người đang dần đánh mất sự cân bằng ấy vẫn mải mê kiếm tiền, chạy theo địa vị, hàng hiệu mà quên mất ý nghĩa của những bữa cơm gia đình, những buổi chiều trò chuyện cùng cha mẹ. Khi vật chất trở thành mục tiêu duy nhất, tâm hồn con người dễ trở nên khô cứng. Vì thế, sống cân bằng nghĩa là biết làm chủ vật chất, không để vật chất chi phối tinh thần. Mỗi người cần học cách sống “đủ” không phung phí nhưng cũng không keo kiệt tình cảm. Hãy dành thời gian yêu thương, giúp đỡ người khác, giữ trái tim lương thiện và tâm hồn trong sáng.
Để xây dựng lối sống cân bằng, trước hết mỗi người cần biết đủ và biết sẻ chia. Hãy coi vật chất là phương tiện chứ không phải mục tiêu duy nhất. Bên cạnh việc học tập, lao động để tạo ra của cải, chúng ta cần nuôi dưỡng đời sống tinh thần bằng cách đọc sách, yêu thương, giúp đỡ người khác và dành thời gian cho gia đình, bạn bè. Biết trân trọng giá trị đạo đức, sống tử tế và giữ lòng nhân hậu chính là con đường giúp con người vừa có cuộc sống sung túc, vừa có tâm hồn phong phú.
Giữa thế giới ngày càng coi trọng vật chất, con người càng cần một trái tim biết rung động, biết sẻ chia. Khi vật chất được tạo ra bằng lao động chân chính và tinh thần được nuôi dưỡng bằng yêu thương, cuộc sống sẽ trở nên trọn vẹn và nhân văn hơn. Bởi lẽ, giá trị đích thực của con người không nằm ở những gì ta có, mà ở cách ta sống và yêu thương.
Câu 1:
Văn bản trên thuộc thể loại : Truyện ngắn .
Câu 2 :
Đề tài của văn bản "Áo Tết" là tình bạn trong sáng, hồn nhiên giữa những đứa trẻ và sự sẻ chia, cảm thông trong cuộc sống nghèo khó.
Câu 3 :
Trong văn bản "Áo Tết" của Nguyễn Ngọc Tư, sự thay đổi điểm nhìn ban đầu câu chuyện được kể theo điểm nhìn của bé Em, về sau lại chuyển sang điểm nhìn của bé Bích. Việc thay đổi điểm nhìn giúp câu chuyện trở nên sinh động, khách quan hơn; người đọc có thể hiểu được tâm lý, tình cảm của cả hai nhân vật, từ đó làm nổi bật vẻ đẹp của tình bạn chân thành và lòng nhân hậu.
Câu 4 :
Chiếc áo đầm hồng là chi tiết trung tâm, thể hiện:
Ở bé Em, ban đầu là niềm kiêu hãnh, thích khoe đồ mới, nhưng sau đó em biết nghĩ cho bạn, biết hi sinh niềm vui cá nhân để giữ tình bạn.
Ở bé Bích, chi tiết này gợi sự thiệt thòi, nghèo khó nhưng vẫn hồn nhiên, không ghen tị, luôn quý mến bạn.
Chiếc áo trở thành biểu tượng của tình bạn, của sự đồng cảm và trưởng thành trong tâm hồn trẻ thơ.
Câu 5 :
Câu chuyện giữa bé Em và bé Bích giúp em hiểu rằng tình bạn thật sự không nằm ở quần áo đẹp hay hoàn cảnh giàu nghèo, mà ở sự quan tâm và chia sẻ chân thành. Bé Em đã biết nghĩ cho bạn, không muốn làm bé Bích buồn nên không mặc áo đầm hồng, điều đó cho thấy em có một tấm lòng nhân hậu, biết đặt tình bạn lên trên cái đẹp bề ngoài. Còn bé Bích tuy nghèo nhưng vẫn vui vẻ, không ganh tị, luôn trân trọng bạn mình. Tình bạn của hai em giản dị mà trong sáng, khiến người đọc cảm động. Khi đọc câu chuyện, em học được rằng: "Tình bạn là điều gì đó thật kì diệu. Đó là thứ tình cảm trong sáng và vô điều kiện, là món quà tặng mà khi đã trao vào tay ai số phận hiếm khi giật lại. Vì vậy mà nó bền chắc và có thể kéo dài thăm thẳm qua thời gian và sự xa cách." Em tin rằng, dù sau này mỗi người một hướng đi, chỉ cần trong tim vẫn có nhau, thì tình bạn ấy sẽ mãi mãi là điểm tựa ấm áp nhất giữa cuộc đời.