Lương Thị Huyền Trang
Giới thiệu về bản thân
Lí lẽ:
+) Làm thơ không phải đánh quả. Và không ai trúng số độc đắc suốt đời.
+)Người ta hay nói đến công phu người viết tiểu thuyết.
+)những câu thơ hay đều kì ngộ, nhưng là kì ngộ kết quả của một thành tâm kiên trì, một đa mang đắm đuối, làm động lòng quỷ thần, chứ không phải may rủi đơn thuần.
+)các nhà lí thuyết ít nói đến công phu của nhà thơ. Ngược lại thiên hạ sính ca tụng những nhà thơ viết tức khắc trong những cơn bốc đồng, những nhà thơ thiên phú.
Dẫn chứng :
+)Có người hiểu lầm câu nói của Trang Tử vứt thánh bỏ trí để coi thường việc học tập, rèn luyện, làm như Trang Tử khuyến khích một nỗ lực vô văn hoá.
+)Chúng ta cần học những nhà thơ như Lý Bạch, Xa-a-đi, Gớt, Ta-go, ở vào buổi chiều tóc bạc vẫn thu hoạch những mùa thơ dậy thì
Nhận xét: Tóm lại, tác giả đã sử dụng hệ thống lí lẽ logic, được củng cố bằng những dẫn chứng uyên bác để chứng minh rằng: tài năng đích thực của nhà thơ nằm ở sự kiên trì, khổ luyện và khả năng làm chủ, chế ngự được ngôn ngữ.
Em hiểu về ý kiến :"nhà thơ một nắng hai sương, lầm lũi, lực điền trên cánh đồng giấy, đổi bát mồ hôi lấy từng hạt chữ" đó là sự lao động gian khổ, vất vả của nhà thơ trên con đường sáng tạo thi ca. Họ không phải là người tùy hứng mà phải cần mẫn, chăm chỉ, không quản khó khăn (một nắng hai sương, lầm lũi, lực điền) để chắt chiu, thai nghén từng ý tứ, ngôn từ (đổi bát mồ hôi lấy từng hạt chữ) trên "cánh đồng giấy" (trang viết), nhằm tạo ra những tác phẩm có giá trị và giàu ý nghĩa.
Tác giả rất ghét cái định kiến quái gở, không biết xuất hiện từ bao giờ: các nhà thơ Việt Nam thường chín sớm nên cũng tàn lụi sớm.
Tác giả không mê những nhà thơ thần đồng.
Ngược lại tác giả lại ưa những nhà thơ một nắng hai sương, lầm lũi, lực điền trên cánh đồng giấy, đổi bát mồ hỡi lấy từng hạt chữ.
a) Dấu hiệu nổi bật: câu văn thứ hai trong đoạn được triển khai không đúng với chủ đề chung của đoạn văn. b) Dấu hiệu của lỗi liên kết: - Phép nối được sử dụng để liên kết giữa câu một và câu hai chưa phù hợp. - Giữa câu hai và câu ba chưa có phép liên kết hình thức. c) Cách sửa: - Thay thế phép nối “Mặc dù … nên…” giữa câu một với câu hai thành “Vì … nên…”, trở thành câu: “Vì không tìm thấy được ích lợi của đọc sách trong việc bồi dưỡng tâm hồn, phát huy trí tưởng tượng và rèn luyện cách suy nghĩ nên hầu như mọi người đã vứt bỏ thói quen đọc sách.” - Có thể sửa câu thứ ba thành “Tuy chiếc điện thoại thông minh rất tiện lợi trong việc đáp ứng nhiều nhu cầu của con người trong cuộc sống hiện đại, nhưng nó lại khó giúp ta tìm được sự yên tĩnh, lắng sâu trong tâm hồn”.
a) Lý do đoạn văn vẫn rời rạc là vì: phép liên kết được sử dụng chưa đúng cách, chưa phù hợp, các câu văn chưa có sự liên kết khiến đoạn văn bị rời rạc. b) Lỗi liên kết: Đoạn văn sử dụng phép liên kết hình thức (phép lặp) chưa phù hợp, chưa liên kết được các câu trong đoạn
Văn bản “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” có cách lập luận chặt chẽ, mạch lạc, giàu thuyết phục. Mở đầu, tác giả đưa ra khái niệm “hiền tài”, khẳng định hiền tài có ý nghĩa quan trọng đối với vận mệnh dân tộc thông qua cách trọng dụng, đối đãi của những đấng thánh đế minh vương và cuối cùng là nêu lên tác dụng to lớn của việc được khắc tên lên bia tiến sĩ đối với người đương thời và các thế hệ sau. Các luận điểm có mối liên hệ chặt chẽ, luận điểm trước là tiền đề để luận điểm sau phát triển.
a. Nó được coi là một đoạn văn vì các câu trong đoạn liên kết chặt chẽ với nhau về nội dung và hình thức: - Về hình thức: + Chữ cái đầu được viết hoa, lùi vào so với các dòng chữ khác trong đoạn. + Đoạn văn được tạo thành bởi bốn câu văn liên kết với nhau bằng phép lặp. - Về nội dung: + Các câu trong đoạn văn đều xoay quanh chủ đề của đoạn là cách người nghệ sĩ bảo toàn lòng đồng cảm của mình và được trình bày theo một trình tự hợp lý
b. Mạch lạc giữa các câu trong đoạn văn: Các câu trong đoạn văn đều hướng về một tiểu chủ đề: nghệ sĩ là người kiên định, giữ được tấm lòng đồng cảm đáng quý.
C. Dấu hiệu nhận thấy sự mạch lạc giữa các đoạn: - Đoạn văn trên và các đoạn văn khác đều hướng đến làm nổi bật chủ đề của văn bản Yêu và đồng cảm. - Đoạn văn trên là một lý lẽ nằm trong đoạn (5) của văn bản, kết lại vấn đề về tấm lòng đồng cảm của trẻ em và con người. d) Những từ ngữ được lặp lại nhiều lần: con người/người, tấm lòng, lòng đồng cảm, chỉ có/chỉ vì. - Tác dụng của việc lặp lại các từ ngữ trên là để tạo sự liên kết chặt chẽ giữa các câu văn, đoạn văn có sự mạch lạc, logic về mặt hình thức.
Tác giả Lê Đạt triển khai quan điểm "chữ bầu lên nhà thơ" qua các luận điểm chính: nhà thơ chân chính không phải do danh xưng mà do chính ngôn ngữ độc đáo họ tạo ra; họ phải lao động miệt mài, "dùi mài chữ" để biến ngôn ngữ chung thành "ngôn ngữ đặc sản" mang phong cách riêng, có sức gợi cảm và giá trị lâu bền. Tác giả bác bỏ quan niệm làm thơ dễ dàng, bốc đồng và khẳng định trách nhiệm của nhà thơ là "cúc cung tận tụy" lao động nghệ thuật để làm giàu, làm đẹp cho tiếng mẹ đẻ.