Vũ Bảo Phong
Giới thiệu về bản thân
Loại thiết bị của từng thiết bị:
a) Màn hình máy tính: Thiết bị ra.
b) Tay cầm chơi game: Thiết bị vào.
c) Tai nghe có gắn micro: Thiết bị vừa vào vừa ra.
Thiết bị vào: máy ảnh, bàn phím, micro.
Thiết bị ra: màn hình, loa, máy in.
Thứ tự các thao tác để tắt máy tính an toàn, không làm mất dữ liệu là:
- d) Lưu lại nội dung của tệp.
- b) Đóng tệp đang mở trên thẻ nhớ.
- c) Chọn “Safe To Remove Hardware” để ngắt kết nối với thẻ nhớ.
- a) Chọn nút lệnh Shut down để tắt máy tính.
- Một số việc nên làm khi sử dụng máy tính là:
+ Đọc kĩ hướng dẫn trước khi sử dụng thiết bị.
+ Giữ bàn tay khô, sạch khi sử dụng máy tính.
+ Gõ phím dứt khoát nhưng nhẹ nhàng.
+ Sử dụng nút lệnh Shut-down để tắt máy tính.
+ Rút điện trước khi lau, dọn máy tính.
+ Thoát hết ứng dụng, đóng mọi tài liệu trước khi tắt máy tính.
- Một số việc không nên làm khi sử dụng máy tính là:
+ Thao tác tùy tiện, không theo hướng dẫn.
+ Để đồ uống gần chuột, bàn phím, thẻ nhớ,…
+ Tác động lên màn hình bằng các vật sắc nhọn.
+ Tắt máy tính bằng cách ngắt điện đột ngột.
+ Chạm vào phần kim loại của máy tính.
+ Nối máy tính và máy in khi một trong hai máy đang bật nguồn.
Thiết bị vào – ra trên điện thoại là Màn hình cảm ứng.
Giải thích:
+ Thiết bị vào : Khi hạm, vuốt, gõ phím ảo trên màn hình, màn hình cảm ứng sẽ nhận các thao tác đó làm dữ liệu đầu vào và gửi đến bộ xử lý của điện thoại.
+ Thiết bị ra : Đồng thời, màn hình là nơi hiển thị thông tin, hình ảnh, video, giao diện ứng dụng từ điện thoại ra cho người dùng xem.
Câu 1.
Bài thơ “Cây đa” của Trần Đăng Khoa đã khơi dậy trong em những cảm xúc thật ấm áp và tự hào về quê hương. Qua hình ảnh cây đa vững chãi giữa đồng, bên mương nước, dưới tán lá xanh rì rào ve kêu, em như được sống lại không khí làng quê yên bình, thân thương. Cây đa không chỉ là một cái cây mà còn là biểu tượng của sự che chở, nuôi dưỡng: gọi gió, vẫy chim, cho bóng mát cho trâu bò, cho các bác nông dân nghỉ ngơi giữa trưa hè nắng gắt. Tất cả hòa quyện thành một bức tranh thiên nhiên trù phú, tươi đẹp, giản dị mà đầy sức sống. Đọc bài thơ, em thấy lòng mình trào dâng niềm yêu thương quê hương da diết, nhớ những buổi chiều ngồi dưới gốc đa nghe bà kể chuyện, nghe ve kêu rộn ràng. Cây đa trong thơ Trần Đăng Khoa đã trở thành ký ức đẹp, nhắc em trân trọng và gìn giữ những giá trị bình dị, thiêng liêng của làng quê Việt Nam.
Câu 2.
Mùa hè năm em lên lớp 5, em có một trải nghiệm đáng nhớ nhất cùng bố – chuyến đi câu cá đầu tiên ở sông quê ngoại. Hôm ấy, trời vừa sáng, bố gọi em dậy từ sớm. Bố chuẩn bị cần câu, mồi, giỏ đựng cá, còn em háo hức xách theo cái xô nhỏ. Chúng em đạp xe dọc con đường làng quen thuộc, gió mát lành thổi qua ruộng lúa xanh mướt. Đến bờ sông, bố dạy em cách mắc mồi, thả cần và kiên nhẫn chờ cá cắn câu. Lúc đầu em sốt ruột, cứ hỏi liên tục: “Bố ơi, bao giờ cá mới cắn?”. Bố cười hiền, bảo: “Câu cá cần sự kiên trì, giống như làm mọi việc trong đời con vậy”. Rồi một lúc sau, phao cần giật mạnh, em reo lên thích thú khi kéo được con cá trắm bạc lấp lánh. Bố giúp em tháo móc, bỏ cá vào giỏ, khen em giỏi lắm. Buổi chiều, chúng em mang về mấy con cá to, mẹ nấu canh chua thơm lừng cả nhà. Ngồi ăn cơm, bố kể cho em nghe về những ngày thơ bé bố cũng hay đi câu cùng ông nội. Khoảnh khắc ấy, em cảm nhận rõ tình yêu thương và sự gắn bó giữa bố con. Chuyến đi không chỉ giúp em biết câu cá mà còn dạy em bài học về sự kiên nhẫn và trân trọng những giây phút bên người thân. Kể từ đó, mỗi lần nhìn cây cần câu treo ở góc nhà, em lại mỉm cười nhớ về ngày hè đáng nhớ ấy.
Câu 1.
Bài thơ “Cây đa” của Trần Đăng Khoa đã khơi dậy trong em những cảm xúc thật ấm áp và tự hào về quê hương. Qua hình ảnh cây đa vững chãi giữa đồng, bên mương nước, dưới tán lá xanh rì rào ve kêu, em như được sống lại không khí làng quê yên bình, thân thương. Cây đa không chỉ là một cái cây mà còn là biểu tượng của sự che chở, nuôi dưỡng: gọi gió, vẫy chim, cho bóng mát cho trâu bò, cho các bác nông dân nghỉ ngơi giữa trưa hè nắng gắt. Tất cả hòa quyện thành một bức tranh thiên nhiên trù phú, tươi đẹp, giản dị mà đầy sức sống. Đọc bài thơ, em thấy lòng mình trào dâng niềm yêu thương quê hương da diết, nhớ những buổi chiều ngồi dưới gốc đa nghe bà kể chuyện, nghe ve kêu rộn ràng. Cây đa trong thơ Trần Đăng Khoa đã trở thành ký ức đẹp, nhắc em trân trọng và gìn giữ những giá trị bình dị, thiêng liêng của làng quê Việt Nam.
Câu 2.
Mùa hè năm em lên lớp 5, em có một trải nghiệm đáng nhớ nhất cùng bố – chuyến đi câu cá đầu tiên ở sông quê ngoại. Hôm ấy, trời vừa sáng, bố gọi em dậy từ sớm. Bố chuẩn bị cần câu, mồi, giỏ đựng cá, còn em háo hức xách theo cái xô nhỏ. Chúng em đạp xe dọc con đường làng quen thuộc, gió mát lành thổi qua ruộng lúa xanh mướt. Đến bờ sông, bố dạy em cách mắc mồi, thả cần và kiên nhẫn chờ cá cắn câu. Lúc đầu em sốt ruột, cứ hỏi liên tục: “Bố ơi, bao giờ cá mới cắn?”. Bố cười hiền, bảo: “Câu cá cần sự kiên trì, giống như làm mọi việc trong đời con vậy”. Rồi một lúc sau, phao cần giật mạnh, em reo lên thích thú khi kéo được con cá trắm bạc lấp lánh. Bố giúp em tháo móc, bỏ cá vào giỏ, khen em giỏi lắm. Buổi chiều, chúng em mang về mấy con cá to, mẹ nấu canh chua thơm lừng cả nhà. Ngồi ăn cơm, bố kể cho em nghe về những ngày thơ bé bố cũng hay đi câu cùng ông nội. Khoảnh khắc ấy, em cảm nhận rõ tình yêu thương và sự gắn bó giữa bố con. Chuyến đi không chỉ giúp em biết câu cá mà còn dạy em bài học về sự kiên nhẫn và trân trọng những giây phút bên người thân. Kể từ đó, mỗi lần nhìn cây cần câu treo ở góc nhà, em lại mỉm cười nhớ về ngày hè đáng nhớ ấy.