Lê Tuấn Vỹ

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Lê Tuấn Vỹ
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1. Thể loại

Văn bản Thạch Sanh là truyện cổ tích bằng văn xuôi Nôm.


Câu 2. Sự việc kể trong văn bản

Thạch Sanh bị Lý Thông hãm hại, quân lính bắt giam oan, nhưng chàng vẫn giữ lòng ngay thẳng. Tiếng đàn của Thạch Sanh tố cáo Lý Thông bất nhân và nhắc lại công lao cứu công chúa, diệt trăn tinh, xà vương.


Câu 3. Tóm tắt và mô hình cốt truyện

Tóm tắt: Thạch Sanh bị Lý Thông giam oan, vẫn giữ lòng chính trực. Chàng đánh đàn tố cáo Lý Thông, nhắc lại công lao của mình.
Mô hình cốt truyện: “Người hiền gặp gian ác nhưng cuối cùng vẫn chiến thắng cái ác”.


Câu 4. Câu hỏi tu từ và tác dụng

Ví dụ: “Hỡi Lý Thông mày, cớ sao phụ nghĩa lại rày vong ân?”
Tác dụng: Tố cáo sự bất nhân của Lý Thông, nhấn mạnh đạo lý “người hiền không oán hờn, kẻ ác sẽ bị trừng trị”, tạo hiệu ứng nhấn mạnh cho câu chuyện.


Câu 5. Yếu tố hoang đường kì ảo và tác dụng

Ví dụ: Tiếng đàn của Thạch Sanh có thể tố cáo Lý Thông và cảm hóa cả công chúa.
Tác dụng:

  • Nhấn mạnh sức mạnh phi thường của nhân vật chính.
  • Tạo hấp dẫn, kì ảo cho câu chuyện.
  • Thể hiện khát vọng về công lý, thiện thắng ác trong xã hội dân gian.

Câu 1. (2,0 điểm)

Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) làm rõ giá trị nội dung của văn bản Thạch Sanh.

Truyện cổ tích Thạch Sanh là một trong những tác phẩm tiêu biểu của kho tàng văn học dân gian Việt Nam, thể hiện rõ ước mơ, niềm tin và triết lý sống của nhân dân ta. Truyện kể về chàng Thạch Sanh nghèo khó nhưng có lòng nhân hậu, dũng cảm và giàu nghĩa khí. Qua hành trình diệt chằn tinh, cứu công chúa, trừ đại bàng và cuối cùng được đền đáp xứng đáng, nhân dân gửi gắm niềm tin rằng cái thiện luôn chiến thắng cái ác, người hiền lành, trung thực sẽ được hạnh phúc. Truyện còn thể hiện khát vọng về công bằng xã hội, về sự chiến thắng của chính nghĩa trước gian tà, đồng thời ngợi ca sức mạnh của lòng nhân ái, tình đoàn kết giữa con người. Bên cạnh đó, yếu tố kỳ ảo như cây đàn thần, niêu cơm thần còn góp phần làm cho truyện thêm hấp dẫn, phản ánh ước mơ về cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Thạch Sanh không chỉ là câu chuyện cổ tích, mà còn là bản anh hùng ca của lòng nhân nghĩa và niềm tin bất diệt vào điều thiện trong cuộc đời.


Câu 2. (4,0 điểm)

Đề bài: Trong thời đại số hoá, công nghệ đã thay đổi cách chúng ta giao tiếp với nhau một cách cơ bản. Hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bày tỏ quan điểm của anh/chị về vai trò của công nghệ trong việc thay đổi phương thức giao tiếp của con người. Phân tích những mặt tích cực và tiêu cực của việc sử dụng công nghệ trong giao tiếp hàng ngày, và đề xuất những cách để tận dụng tối đa lợi ích của công nghệ trong khi giảm thiểu những tác động tiêu cực.


Bài làm:

Trong thời đại số hóa, công nghệ đã và đang làm thay đổi mạnh mẽ mọi khía cạnh của đời sống con người, trong đó có cách chúng ta giao tiếp. Nếu như trước đây, giao tiếp chủ yếu diễn ra trực tiếp qua lời nói và thư từ, thì nay, chỉ với một chiếc điện thoại thông minh hay máy tính kết nối Internet, con người có thể trò chuyện, chia sẻ và kết nối với nhau ở bất kỳ nơi đâu. Công nghệ thực sự đã mở ra một kỷ nguyên giao tiếp mới – nhanh chóng, thuận tiện và không biên giới.

Một trong những mặt tích cực rõ rệt nhất là công nghệ giúp con người rút ngắn khoảng cách không gian và thời gian. Chúng ta có thể gọi video cho người thân ở nửa vòng trái đất, tham gia lớp học trực tuyến hay họp làm việc qua Zoom, Google Meet mà không cần di chuyển. Mạng xã hội như Facebook, Zalo, TikTok còn giúp con người dễ dàng cập nhật thông tin, chia sẻ cảm xúc và mở rộng các mối quan hệ. Nhờ công nghệ, giao tiếp trở nên linh hoạt, đa dạng, thậm chí góp phần thúc đẩy sự sáng tạo và hợp tác toàn cầu.

Tuy nhiên, công nghệ cũng mang đến những hệ lụy tiêu cực. Việc quá phụ thuộc vào các thiết bị điện tử khiến con người có xu hướng xa rời giao tiếp trực tiếp, làm suy giảm khả năng lắng nghe, thấu hiểu và chia sẻ cảm xúc thật. Nhiều người, đặc biệt là giới trẻ, dành hàng giờ cho mạng xã hội nhưng lại ít trò chuyện với người thân. Hơn nữa, giao tiếp qua mạng ẩn danh đôi khi dẫn đến hiểu lầm, thiếu tôn trọng và lan truyền thông tin sai lệch. Sự “ảo hóa” trong quan hệ khiến nhiều người cảm thấy cô đơn ngay cả khi đang được “kết nối”.

Để phát huy tối đa lợi ích và hạn chế mặt tiêu cực, chúng ta cần có ý thức sử dụng công nghệ một cách thông minh và nhân văn. Hãy dùng công nghệ như một công cụ hỗ trợ, chứ không phải thay thế hoàn toàn cho giao tiếp trực tiếp. Mỗi người cần biết cân bằng giữa thế giới ảo và đời sống thật, biết chọn lọc thông tin, ứng xử văn minh trên mạng và dành thời gian gặp gỡ, chia sẻ với người thân, bạn bè. Đồng thời, giáo dục kỹ năng giao tiếp và sử dụng công nghệ có trách nhiệm cũng là điều cần thiết trong thời đại số.

Tóm lại, công nghệ là con dao hai lưỡi trong giao tiếp hiện đại: nó có thể gắn kết hoặc chia cách con người tùy theo cách ta sử dụng. Khi được vận dụng đúng đắn, công nghệ không chỉ giúp con người gần nhau hơn mà còn làm phong phú, sâu sắc thêm các mối quan hệ trong cuộc sống hiện đại.

Câu 1 Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận.

Câu 2


→ Tác giả Nguyễn Đăng Mạnh đã làm sáng tỏ chủ nghĩa hiện thực của Nam Cao trên hai phương diện chính:

  1. Phương diện nghệ thuật:
    • Nam Cao là nhà văn của chủ nghĩa hiện thực tâm lí, chú trọng đi sâu khám phá đời sống nội tâm phức tạpcủa con người.
    • Ông có lối kể chuyện biến hóa, trần thuật theo dòng ý thức nhân vật, tạo kết cấu tưởng như phóng túng mà thực ra chặt chẽ.
    • Giọng điệu trần thuật đa dạng, phong phú.
  2. Phương diện tư tưởng, nhân đạo:
    • Nam Cao luôn băn khoăn về nhân phẩm con người, cảm thông sâu sắc với những người bị khinh miệt, bị tước đoạt nhân tính.
    • Ông có “một cái tâm vững vàng, đằm thắm”, viết với nỗi đau xót, thương người, dù có lúc giọng điệu tưởng như lạnh lùng, châm biếm.

→ Như vậy, chủ nghĩa hiện thực Nam Cao là sự kết hợp giữa cái nhìn hiện thực sắc sảo và tấm lòng nhân đạo sâu xa.


Câu 3

→ Tác dụng:

  • So sánh hình ảnh người đọc với đứa trẻ trong rạp xiếc nhằm diễn tả sinh động cảm xúc hồi hộp, lo âu và khâm phục của người đọc trước quá trình sáng tạo đầy mạo hiểm của Nam Cao.
  • Qua đó, làm nổi bật tài năng và bản lĩnh nghệ thuật của nhà văn khi dám đặt nhân vật vào những tình huống tư tưởng “cheo leo”, phức tạp mà vẫn giữ được sự cân bằng, nhân đạo.

Câu 4

→ Ngôn ngữ nghị luận trong phần (2) có các đặc điểm:

  • Giàu cảm xúc, hình ảnh, không khô khan mà mang giọng văn thấm đẫm chất văn chương (thể hiện ở cách so sánh, dùng từ gợi cảm như “cheo leo”, “leo dây”, “đằm thắm”, “nước mắt trong đó”...).
  • Kết hợp linh hoạt lí lẽ chặt chẽ và cảm xúc chân thành, vừa có tính phân tích, vừa thể hiện sự thấu hiểu, trân trọng Nam Cao.
  • Giọng văn chân thành, sâu sắc, biểu cảm, thể hiện phong cách phê bình nghệ thuật của Nguyễn Đăng Mạnh.



Câu 5Cách lập luận của Nguyễn Đăng Mạnh:

  • Mạch lạc, chặt chẽ, triển khai vấn đề theo hai hướng rõ ràng: nghệ thuật và tư tưởng.
  • Kết hợp linh hoạt giữa phân tích – so sánh – bình luận – biểu cảm, tạo nên sức thuyết phục và hấp dẫn cho bài nghị luận.
  • Lập luận giàu chất văn, không chỉ đưa ra nhận định mà còn thể hiện tư duy phê bình tinh tế, cách diễn đạt sinh động, giàu hình tượng.


Câu 1 Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận.

Câu 2


→ Tác giả Nguyễn Đăng Mạnh đã làm sáng tỏ chủ nghĩa hiện thực của Nam Cao trên hai phương diện chính:

  1. Phương diện nghệ thuật:
    • Nam Cao là nhà văn của chủ nghĩa hiện thực tâm lí, chú trọng đi sâu khám phá đời sống nội tâm phức tạpcủa con người.
    • Ông có lối kể chuyện biến hóa, trần thuật theo dòng ý thức nhân vật, tạo kết cấu tưởng như phóng túng mà thực ra chặt chẽ.
    • Giọng điệu trần thuật đa dạng, phong phú.
  2. Phương diện tư tưởng, nhân đạo:
    • Nam Cao luôn băn khoăn về nhân phẩm con người, cảm thông sâu sắc với những người bị khinh miệt, bị tước đoạt nhân tính.
    • Ông có “một cái tâm vững vàng, đằm thắm”, viết với nỗi đau xót, thương người, dù có lúc giọng điệu tưởng như lạnh lùng, châm biếm.

→ Như vậy, chủ nghĩa hiện thực Nam Cao là sự kết hợp giữa cái nhìn hiện thực sắc sảo và tấm lòng nhân đạo sâu xa.


Câu 3

→ Tác dụng:

  • So sánh hình ảnh người đọc với đứa trẻ trong rạp xiếc nhằm diễn tả sinh động cảm xúc hồi hộp, lo âu và khâm phục của người đọc trước quá trình sáng tạo đầy mạo hiểm của Nam Cao.
  • Qua đó, làm nổi bật tài năng và bản lĩnh nghệ thuật của nhà văn khi dám đặt nhân vật vào những tình huống tư tưởng “cheo leo”, phức tạp mà vẫn giữ được sự cân bằng, nhân đạo.

Câu 4

→ Ngôn ngữ nghị luận trong phần (2) có các đặc điểm:

  • Giàu cảm xúc, hình ảnh, không khô khan mà mang giọng văn thấm đẫm chất văn chương (thể hiện ở cách so sánh, dùng từ gợi cảm như “cheo leo”, “leo dây”, “đằm thắm”, “nước mắt trong đó”...).
  • Kết hợp linh hoạt lí lẽ chặt chẽ và cảm xúc chân thành, vừa có tính phân tích, vừa thể hiện sự thấu hiểu, trân trọng Nam Cao.
  • Giọng văn chân thành, sâu sắc, biểu cảm, thể hiện phong cách phê bình nghệ thuật của Nguyễn Đăng Mạnh.



Câu 5Cách lập luận của Nguyễn Đăng Mạnh:

  • Mạch lạc, chặt chẽ, triển khai vấn đề theo hai hướng rõ ràng: nghệ thuật và tư tưởng.
  • Kết hợp linh hoạt giữa phân tích – so sánh – bình luận – biểu cảm, tạo nên sức thuyết phục và hấp dẫn cho bài nghị luận.
  • Lập luận giàu chất văn, không chỉ đưa ra nhận định mà còn thể hiện tư duy phê bình tinh tế, cách diễn đạt sinh động, giàu hình tượng.


Câu 1


Đọc “Những dặm đường xuân” của Băng Sơn, em như được sống trong không khí rộn ràng, ấm áp của những ngày giáp Tết quê hương. Qua ngòi bút tài hoa và cảm xúc chân thành, tác giả đã tái hiện sinh động bức tranh mùa xuân với chợ Tết đông vui, với những màu sắc quen thuộc của vàng hương, trầu cau, tranh Tết, mía tím, mâm ngũ quả… Không chỉ là bức tranh cảnh vật, tác phẩm còn là bức tranh tâm hồn – nơi con người hối hả chuẩn bị đón Tết, mang trong lòng niềm vui, hi vọng và khát vọng sống lương thiện, tốt đẹp hơn. Giọng văn Băng Sơn nồng nàn, tha thiết, khiến người đọc cảm nhận được tình yêu quê hương, đất nước, sự gắn bó sâu sắc với truyền thống dân tộc. Sau khi đọc văn bản, em thêm yêu Tết Việt – không chỉ bởi hương vị ấm áp của ngày đoàn tụ mà còn bởi những giá trị tinh thần thiêng liêng đã hun đúc nên tâm hồn Việt bao đời nay.

Câu 2


Trong dòng chảy mạnh mẽ của toàn cầu hóa, khi văn hóa các quốc gia đang giao thoa sâu rộng, vấn đề gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Giữ gìn bản sắc ấy không chỉ là nhiệm vụ của riêng ai, mà đặc biệt là trách nhiệm thiêng liêng của thế hệ trẻ – những người sẽ kế tục và phát triển đất nước trong tương lai.

Bản sắc văn hóa dân tộc là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần mà cha ông ta đã sáng tạo, vun đắp qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Đó là tiếng Việt trong sáng, là tà áo dài duyên dáng, là những phong tục Tết cổ truyền, là lời ru ngọt ngào, là tinh thần yêu nước, lòng nhân hậu và ý chí kiên cường của con người Việt Nam. Những giá trị ấy chính là “hồn cốt” làm nên bản lĩnh và sức sống của dân tộc ta giữa muôn vàn biến động của thời đại.

Thế hệ trẻ hôm nay được sinh ra và lớn lên trong thời kỳ hội nhập, có điều kiện tiếp cận tri thức và văn hóa thế giới. Tuy nhiên, cùng với cơ hội là những thách thức không nhỏ: sự xâm nhập của các lối sống lai căng, sự thờ ơ với truyền thống, hay tâm lý sính ngoại. Chính vì vậy, người trẻ cần ý thức sâu sắc rằng giữ gìn bản sắc dân tộc là giữ lấy gốc rễ tinh thần của chính mình. Trách nhiệm ấy không chỉ thể hiện ở lời nói mà phải bằng hành động cụ thể: tôn trọng và sử dụng tiếng Việt đúng mực, tìm hiểu và thực hành phong tục truyền thống, tích cực quảng bá văn hóa Việt ra thế giới, tham gia gìn giữ di sản quê hương, và đặc biệt là sống nhân ái, trung thực – những phẩm chất cốt lõi của người Việt.

Bên cạnh đó, người trẻ cũng cần biết làm mới văn hóa truyền thống, đưa hơi thở hiện đại vào các giá trị xưa để văn hóa dân tộc không bị lãng quên mà ngày càng lan tỏa. Khi một bạn trẻ mặc áo dài đến trường, sáng tạo âm nhạc mang âm hưởng dân gian, hay tự hào giới thiệu món ăn Việt với bạn bè quốc tế – đó cũng là cách đẹp đẽ để văn hóa Việt được bảo tồn và phát triển.

Giữ gìn bản sắc văn hóa không có nghĩa là khép mình trong quá khứ, mà là biết trân trọng truyền thống để vươn tới tương lai. Là thế hệ trẻ, chúng ta phải hiểu rằng mỗi hành động, mỗi lựa chọn sống hôm nay đều góp phần tạo nên diện mạo văn hóa của đất nước ngày mai.

Câu 1


Đọc “Những dặm đường xuân” của Băng Sơn, em như được sống trong không khí rộn ràng, ấm áp của những ngày giáp Tết quê hương. Qua ngòi bút tài hoa và cảm xúc chân thành, tác giả đã tái hiện sinh động bức tranh mùa xuân với chợ Tết đông vui, với những màu sắc quen thuộc của vàng hương, trầu cau, tranh Tết, mía tím, mâm ngũ quả… Không chỉ là bức tranh cảnh vật, tác phẩm còn là bức tranh tâm hồn – nơi con người hối hả chuẩn bị đón Tết, mang trong lòng niềm vui, hi vọng và khát vọng sống lương thiện, tốt đẹp hơn. Giọng văn Băng Sơn nồng nàn, tha thiết, khiến người đọc cảm nhận được tình yêu quê hương, đất nước, sự gắn bó sâu sắc với truyền thống dân tộc. Sau khi đọc văn bản, em thêm yêu Tết Việt – không chỉ bởi hương vị ấm áp của ngày đoàn tụ mà còn bởi những giá trị tinh thần thiêng liêng đã hun đúc nên tâm hồn Việt bao đời nay.

Câu 2


Trong dòng chảy mạnh mẽ của toàn cầu hóa, khi văn hóa các quốc gia đang giao thoa sâu rộng, vấn đề gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Giữ gìn bản sắc ấy không chỉ là nhiệm vụ của riêng ai, mà đặc biệt là trách nhiệm thiêng liêng của thế hệ trẻ – những người sẽ kế tục và phát triển đất nước trong tương lai.

Bản sắc văn hóa dân tộc là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần mà cha ông ta đã sáng tạo, vun đắp qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Đó là tiếng Việt trong sáng, là tà áo dài duyên dáng, là những phong tục Tết cổ truyền, là lời ru ngọt ngào, là tinh thần yêu nước, lòng nhân hậu và ý chí kiên cường của con người Việt Nam. Những giá trị ấy chính là “hồn cốt” làm nên bản lĩnh và sức sống của dân tộc ta giữa muôn vàn biến động của thời đại.

Thế hệ trẻ hôm nay được sinh ra và lớn lên trong thời kỳ hội nhập, có điều kiện tiếp cận tri thức và văn hóa thế giới. Tuy nhiên, cùng với cơ hội là những thách thức không nhỏ: sự xâm nhập của các lối sống lai căng, sự thờ ơ với truyền thống, hay tâm lý sính ngoại. Chính vì vậy, người trẻ cần ý thức sâu sắc rằng giữ gìn bản sắc dân tộc là giữ lấy gốc rễ tinh thần của chính mình. Trách nhiệm ấy không chỉ thể hiện ở lời nói mà phải bằng hành động cụ thể: tôn trọng và sử dụng tiếng Việt đúng mực, tìm hiểu và thực hành phong tục truyền thống, tích cực quảng bá văn hóa Việt ra thế giới, tham gia gìn giữ di sản quê hương, và đặc biệt là sống nhân ái, trung thực – những phẩm chất cốt lõi của người Việt.

Bên cạnh đó, người trẻ cũng cần biết làm mới văn hóa truyền thống, đưa hơi thở hiện đại vào các giá trị xưa để văn hóa dân tộc không bị lãng quên mà ngày càng lan tỏa. Khi một bạn trẻ mặc áo dài đến trường, sáng tạo âm nhạc mang âm hưởng dân gian, hay tự hào giới thiệu món ăn Việt với bạn bè quốc tế – đó cũng là cách đẹp đẽ để văn hóa Việt được bảo tồn và phát triển.

Giữ gìn bản sắc văn hóa không có nghĩa là khép mình trong quá khứ, mà là biết trân trọng truyền thống để vươn tới tương lai. Là thế hệ trẻ, chúng ta phải hiểu rằng mỗi hành động, mỗi lựa chọn sống hôm nay đều góp phần tạo nên diện mạo văn hóa của đất nước ngày mai.

Câu 1


Đọc “Những dặm đường xuân” của Băng Sơn, em như được sống trong không khí rộn ràng, ấm áp của những ngày giáp Tết quê hương. Qua ngòi bút tài hoa và cảm xúc chân thành, tác giả đã tái hiện sinh động bức tranh mùa xuân với chợ Tết đông vui, với những màu sắc quen thuộc của vàng hương, trầu cau, tranh Tết, mía tím, mâm ngũ quả… Không chỉ là bức tranh cảnh vật, tác phẩm còn là bức tranh tâm hồn – nơi con người hối hả chuẩn bị đón Tết, mang trong lòng niềm vui, hi vọng và khát vọng sống lương thiện, tốt đẹp hơn. Giọng văn Băng Sơn nồng nàn, tha thiết, khiến người đọc cảm nhận được tình yêu quê hương, đất nước, sự gắn bó sâu sắc với truyền thống dân tộc. Sau khi đọc văn bản, em thêm yêu Tết Việt – không chỉ bởi hương vị ấm áp của ngày đoàn tụ mà còn bởi những giá trị tinh thần thiêng liêng đã hun đúc nên tâm hồn Việt bao đời nay.

Câu 2


Trong dòng chảy mạnh mẽ của toàn cầu hóa, khi văn hóa các quốc gia đang giao thoa sâu rộng, vấn đề gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Giữ gìn bản sắc ấy không chỉ là nhiệm vụ của riêng ai, mà đặc biệt là trách nhiệm thiêng liêng của thế hệ trẻ – những người sẽ kế tục và phát triển đất nước trong tương lai.

Bản sắc văn hóa dân tộc là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần mà cha ông ta đã sáng tạo, vun đắp qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Đó là tiếng Việt trong sáng, là tà áo dài duyên dáng, là những phong tục Tết cổ truyền, là lời ru ngọt ngào, là tinh thần yêu nước, lòng nhân hậu và ý chí kiên cường của con người Việt Nam. Những giá trị ấy chính là “hồn cốt” làm nên bản lĩnh và sức sống của dân tộc ta giữa muôn vàn biến động của thời đại.

Thế hệ trẻ hôm nay được sinh ra và lớn lên trong thời kỳ hội nhập, có điều kiện tiếp cận tri thức và văn hóa thế giới. Tuy nhiên, cùng với cơ hội là những thách thức không nhỏ: sự xâm nhập của các lối sống lai căng, sự thờ ơ với truyền thống, hay tâm lý sính ngoại. Chính vì vậy, người trẻ cần ý thức sâu sắc rằng giữ gìn bản sắc dân tộc là giữ lấy gốc rễ tinh thần của chính mình. Trách nhiệm ấy không chỉ thể hiện ở lời nói mà phải bằng hành động cụ thể: tôn trọng và sử dụng tiếng Việt đúng mực, tìm hiểu và thực hành phong tục truyền thống, tích cực quảng bá văn hóa Việt ra thế giới, tham gia gìn giữ di sản quê hương, và đặc biệt là sống nhân ái, trung thực – những phẩm chất cốt lõi của người Việt.

Bên cạnh đó, người trẻ cũng cần biết làm mới văn hóa truyền thống, đưa hơi thở hiện đại vào các giá trị xưa để văn hóa dân tộc không bị lãng quên mà ngày càng lan tỏa. Khi một bạn trẻ mặc áo dài đến trường, sáng tạo âm nhạc mang âm hưởng dân gian, hay tự hào giới thiệu món ăn Việt với bạn bè quốc tế – đó cũng là cách đẹp đẽ để văn hóa Việt được bảo tồn và phát triển.

Giữ gìn bản sắc văn hóa không có nghĩa là khép mình trong quá khứ, mà là biết trân trọng truyền thống để vươn tới tương lai. Là thế hệ trẻ, chúng ta phải hiểu rằng mỗi hành động, mỗi lựa chọn sống hôm nay đều góp phần tạo nên diện mạo văn hóa của đất nước ngày mai.