Lê Thành Hiệp
Giới thiệu về bản thân
Câu 1 :
Trong vô vàn sản phẩm thủ công truyền thống của Việt Nam, tôi đặc biệt ấn tượng với quy trình làm nón lá Huế – một biểu tượng dịu dàng của người phụ nữ Việt. Để làm ra một chiếc nón, người thợ phải trải qua nhiều công đoạn tỉ mỉ. Trước hết, họ chọn những tàu lá kè non, phơi sương cho mềm, rồi dùng bàn là than ủi phẳng. Sau đó, lá được xếp đều trên khung tre gồm 16 vòng, khâu lại bằng sợi cước trắng nhỏ, mũi kim phải đều tăm tắp, không lệch dù chỉ một li. Công đoạn cuối cùng là phủ dầu bóng để nón bền màu và chống thấm nước. Mỗi chiếc nón là kết tinh của sự khéo léo, kiên nhẫn và tâm hồn nghệ nhân. Tôi vẫn nhớ lần đến Huế, nghe tiếng kim chạm lá “lách cách” bên mái nhà tranh, lòng chợt thấy bình yên và tự hào. Nón lá không chỉ là vật che nắng che mưa, mà còn là một phần hồn Việt, là minh chứng cho bản sắc văn hoá dân tộc cần được gìn giữ và trân trọng mãi mãi.
Câu 2 :
Chảy máu chất xám là hiện tượng những người có trình độ chuyên môn, tay nghề cao rời bỏ đất nước để sinh sống và làm việc ở nước ngoài. Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, đây là một vấn đề nhức nhối đang diễn ra ở Việt Nam, đặt ra nhiều thách thức cho sự phát triển bền vững của quốc gia. Trước hết, cần hiểu rằng “chất xám” là biểu tượng cho trí tuệ, tài năng – nguồn lực quý giá nhất của mỗi đất nước. “Chảy máu chất xám” đồng nghĩa với việc nguồn nhân lực trí thức bị thất thoát, những người giỏi không ở lại cống hiến cho quê hương mà tìm cơ hội ở nơi khác. Thực tế cho thấy, nhiều du học sinh Việt Nam sau khi hoàn thành học tập ở nước ngoài đã chọn ở lại làm việc vì môi trường phát triển, thu nhập cao và điều kiện nghiên cứu thuận lợi hơn. Hiện tượng ấy phản ánh sự chênh lệch giữa tiềm năng con người và môi trường phát huy tài năng trong nước. Nguyên nhân của tình trạng này khá đa dạng. Trước hết là chính sách đãi ngộ và môi trường làm việc trong nước còn nhiều hạn chế: cơ sở vật chất chưa hiện đại, thủ tục hành chính rườm rà, cơ hội thăng tiến chưa công bằng. Nhiều người trẻ cảm thấy khó phát huy năng lực, nên lựa chọn ra đi để “tự cứu lấy mình”. Bên cạnh đó, tâm lý sính ngoại, khao khát được sống trong môi trường năng động, hiện đại cũng khiến họ dễ bị cuốn theo những cơ hội ở nước ngoài. Tuy nhiên, hậu quả mà “chảy máu chất xám” để lại là vô cùng nghiêm trọng. Đất nước mất đi lực lượng trí thức trẻ – những người có khả năng sáng tạo, nghiên cứu và đổi mới. Khi những bộ óc tài năng rời đi, sự phát triển khoa học, kinh tế, giáo dục trong nước sẽ bị kìm hãm, kéo theo nguy cơ tụt hậu. Đáng buồn hơn, đây còn là sự mất mát về tinh thần dân tộc, khi lòng yêu nước, trách nhiệm cống hiến cho quê hương bị mai một dần. Trước vấn đề đó, Việt Nam cần có những giải pháp đồng bộ và lâu dài. Nhà nước nên cải thiện chế độ đãi ngộ, tạo môi trường làm việc minh bạch, khuyến khích sáng tạo. Các trường đại học, viện nghiên cứu cần đầu tư cơ sở vật chất hiện đại, mở rộng hợp tác quốc tế để người tài có thể “vừa hội nhập, vừa phục vụ Tổ quốc”. Quan trọng hơn cả là đánh thức tinh thần tự hào dân tộc và ý thức trách nhiệm của thế hệ trẻ, để họ hiểu rằng trí tuệ của mình chỉ thực sự có ý nghĩa khi được dùng để góp phần xây dựng đất nước.
Câu 1 : phương thức biểu đạt chính : Nghị luận
Câu 2 :
Văn bản làm sáng tỏ chủ nghĩa hiện thực của Nam Cao trên hai phương diện chủ yếu:
1. Phương diện nghệ thuật: Nam Cao là nhà văn của chủ nghĩa hiện thực tâm lí, chú trọng miêu tả đời sống nội tâm phức tạp của con người. Ông có lối kể chuyện biến hoá, trần thuật theo dòng ý thức và điểm nhìn nhân vật, tạo nên kết cấu linh hoạt mà chặt chẽ.
2. Phương diện tư tưởng – nhân đạo: Nam Cao luôn trăn trở về nhân phẩm và thân phận con người bị xã hội chà đạp. Ông thể hiện một tấm lòng nhân đạo sâu sắc, thương cảm và trân trọng những con người khốn khổ, luôn khát khao minh oan, bảo vệ nhân cách con người.
Câu 3 :
Biện pháp tu từ so sánh:
“Người đọc lắm lúc có cảm giác như đứa trẻ trong rạp xiếc lo lắng nhìn bước chân người tài tử đang diễn trò leo dây giữa khoảng không.” Tác dụng: So sánh giúp người đọc hình dung sự căng thẳng, hồi hộp khi theo dõi ngòi bút Nam Cao khám phá những ranh giới mong manh giữa thiện và ác, người và thú, lý trí và bản năng trong con người. Qua đó làm nổi bật sự dũng cảm và bản lĩnh sáng tạo của Nam Cao: ông dám “đi trên dây” – tức là dấn thân vào những vùng đề tài khó, nhạy cảm để bảo vệ con người bằng ngòi bút nhân đạo của mình
Câu 4 :
Giọng văn chân thành, sâu sắc, cảm xúc mà vẫn lí trí. Kết hợp lí lẽ lập luận chặt chẽ với hình ảnh, cảm xúc nghệ thuật → làm cho bài nghị luận không khô khan mà sinh động, truyền cảm. Sử dụng nhiều từ ngữ biểu cảm và biện pháp tu từ (so sánh, ẩn dụ, điệp cấu trúc) thể hiện sự trân trọng, ngợi ca nhân cách và ngòi bút Nam Cao.
Câu 5 :
Rõ ràng, logic, có sự phân đoạn hợp lí giữa các luận điểm: từ nghệ thuật đến tư tưởng đến nhân đạo.
Kết hợp phân tích, so sánh, bình luận và chứng minh để làm nổi bật nét riêng của Nam Cao.
Lập luận giàu cảm xúc, có chiều sâu tư tưởng, thể hiện cái nhìn toàn diện, tinh tế về phong cách nghệ thuật và nhân cách của nhà văn Nam Cao.
Câu1 :
Đọc “Những dặm đường xuân” của Băng Sơn, em cảm nhận được một bức tranh mùa xuân thật rộn ràng, tươi đẹp và chan chứa tình người Việt Nam. Qua giọng văn nhẹ nhàng, tinh tế mà sâu lắng, tác giả đã khắc họa sinh động không khí những ngày giáp Tết – khi con người hối hả, bận rộn nhưng vẫn tràn đầy niềm vui và hi vọng. Em như được đi dọc những nẻo đường quê, ngắm chợ Tết đông vui, nghe tiếng cười nói ấm áp và cảm nhận hương vị thân quen của mùa xuân đang về. Ẩn sau từng câu chữ là tình yêu sâu sắc của tác giả với quê hương, với những giá trị truyền thống và niềm tin vào con người Việt Nam lương thiện, giàu tình nghĩa. Văn bản khiến em thêm trân trọng những khoảnh khắc sum vầy bên gia đình, thêm yêu những phong tục giản dị mà thiêng liêng của dân tộc. Mùa xuân trong trang viết của Băng Sơn không chỉ là mùa của đất trời, mà còn là mùa của hi vọng, của lòng nhân ái và khát vọng sống tốt đẹp hơn.
Câu 2 :
Mỗi dân tộc trên thế giới đều có một nền văn hoá riêng – đó là linh hồn, là bản sắc, là cội nguồn tạo nên sức sống và sự khác biệt của dân tộc ấy. Với Việt Nam, trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, cha ông ta đã xây dựng nên một nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc, kết tinh trong ngôn ngữ, trang phục, phong tục, tín ngưỡng, nghệ thuật và cả lối sống. Giữ gìn những nét đẹp ấy không chỉ là trách nhiệm của toàn xã hội mà còn là nghĩa vụ thiêng liêng của thế hệ trẻ – những chủ nhân tương lai của đất nước. Trước hết, bản sắc văn hoá dân tộc là niềm tự hào và cội nguồn sức mạnh tinh thần của mỗi người Việt Nam. Trong bối cảnh toàn cầu hoá, khi ranh giới giữa các nền văn hoá đang bị xoá mờ, việc giữ gìn bản sắc dân tộc giúp chúng ta không bị hoà tan, khẳng định vị thế và bản lĩnh Việt Nam trên trường quốc tế. Vì vậy, thế hệ trẻ cần ý thức sâu sắc rằng việc trân trọng và gìn giữ văn hoá truyền thống không phải là chuyện của quá khứ, mà là điều kiện để phát triển bền vững trong hiện tại và tương lai. Tuy nhiên, ngày nay không ít bạn trẻ đang xa rời, thờ ơ hoặc lãng quên các giá trị văn hoá dân tộc. Họ thích chạy theo xu hướng phương Tây, ngại mặc áo dài, không biết lễ phép trong giao tiếp, không hiểu ý nghĩa Tết cổ truyền hay những làn điệu dân ca. Sự xâm nhập mạnh mẽ của văn hoá ngoại lai, nếu không được chọn lọc, dễ khiến giới trẻ đánh mất gốc rễ và bản sắc của chính mình. Vì thế, trách nhiệm của thế hệ trẻ không chỉ là gìn giữ mà còn phải làm sống lại, lan toả và đổi mới văn hoá dân tộc theo cách hiện đại và phù hợp với thời đại số. Muốn làm được điều đó, mỗi người trẻ cần bắt đầu từ những hành động nhỏ: tự hào sử dụng tiếng Việt đúng chuẩn, cư xử có văn hoá, giữ gìn truyền thống gia đình, tôn trọng phong tục quê hương, tìm hiểu và quảng bá nghệ thuật dân tộc qua mạng xã hội, qua các hoạt động cộng đồng. Đồng thời, họ cần kết hợp hài hoà giữa truyền thống và hiện đại, tiếp thu tinh hoa nhân loại nhưng vẫn giữ vững gốc Việt, để văn hoá dân tộc không bị cũ kỹ mà luôn tươi mới, hấp dẫn.
Câu 1 : thể loại : tùy bút
Câu 2:
Thời điểm: Những ngày cuối năm – giáp Tết, chuyển giao giữa mùa đông và mùa xuân
Câu 3 :
Miêu tả: Khung cảnh làng quê hiện lên sống động, rộn ràng và ấm áp không khí Tết: Phiên chợ cuối năm tấp nập, người bán người mua đông vui, hàng hóa đủ sắc màu. Ngoài đình, chùa, bờ giếng được quét vôi trắng tinh, biểu tượng của sự sạch sẽ, tươi mới. Trong mỗi ngôi nhà có đôi câu đối đỏ, cây mía tím, mâm ngũ quả, tranh Tết Đông Hồ… Cảnh vật như khoác áo mới, con người bận rộn mà vẫn vui tươi, tràn đầy hi vọng, yêu đời và hướng tới điều tốt đẹp.
Câu 4 :
Ông lĩnh nhiệm vụ mới Thiên đình giao cho ra sao, sẽ khuyên nhủ gia chủ ăn ngay ở thẳng thế nào, cho ba trăm sáu mươi ngày đều vui như ngày hội, cho cô gái tựa tóc vào vai người yêu, cho chàng trai soi vào mắt người tình mà run quả tim trong sạch, cho con chim khách không bao giờ sai, cho những chú bé đi 'hôi' cá cứ cười như nắc nẻ, dù chỉ được con tôm hay chú cá rô ron, cho chợ Tết người chen người, cho đồng lúa rờn rờn bát ngát, cho những con người lầm lạc sớm hoàn lương,…" Phân tích: Câu văn sử dụng phép liệt kê hàng loạt hình ảnh: từ niềm vui của người lao động, cảnh sinh hoạt đời thường, đến những ước mong về đạo đức, hạnh phúc, sự lương thiện. Tác dụng: Làm cho bức tranh mùa xuân trở nên phong phú, sinh động, đầy sức sống. Thể hiện niềm vui, hi vọng và khát vọng về cuộc sống bình yên, nhân hậu, tốt đẹp của con người. Bộc lộ tình yêu quê hương, yêu cuộc đời và niềm tin của tác giả vào con người Việt Nam trong năm mới.
Câu 5 :
Văn bản thể hiện niềm xúc động, tự hào và tình yêu tha thiết của tác giả đối với mùa xuân, với quê hương, đất nước và con người Việt Nam trong những ngày Tết. Qua những hình ảnh giản dị, ấm áp của làng quê và thành phố ngày xuân, tác giả gửi gắm niềm tin vào cuộc sống, vào cái thiện, vào sự đổi thay tốt đẹp của con người và đất nước.
Câu 1 : Văn bản Thạch Sanh thể hiện sâu sắc ước mơ và quan niệm đạo đức của nhân dân ta về cái thiện và cái ác trong cuộc sống. Qua hình tượng người anh hùng Thạch Sanh hiền lành, dũng cảm, giàu lòng nhân hậu, truyện ca ngợi phẩm chất cao đẹp của con người lao động – những người tuy nghèo khó nhưng luôn ngay thẳng, thật thà và sẵn sàng giúp đỡ kẻ khác. Đồng thời, văn bản cũng phê phán, lên án thói tham lam, độc ác và phản bội của mẹ con Lý Thông – đại diện cho cái ác, cái giả trá trong xã hội. Bằng cốt truyện giàu kịch tính và yếu tố kì ảo, tác phẩm khẳng định niềm tin của nhân dân rằng cái thiện cuối cùng sẽ chiến thắng cái ác, người tốt dù chịu thiệt thòi vẫn được đền đáp xứng đáng. Thạch Sanh vì thế không chỉ là câu chuyện cổ tích mang màu sắc hoang đường mà còn là bản tuyên ngôn về công lý, lòng nhân ái và khát vọng hướng thiện của con người Việt Nam.
Câu 2 :
Trong thời đại số hoá, khi mạng Internet và các thiết bị thông minh phát triển mạnh mẽ, công nghệ đã làm thay đổi gần như toàn bộ cách con người giao tiếp với nhau. Từ những cuộc gặp mặt trực tiếp, những lá thư tay mộc mạc, nay chúng ta chỉ cần vài giây để kết nối với người khác ở bất kỳ đâu trên thế giới. Vai trò của công nghệ trong giao tiếp hiện đại vì thế trở nên vô cùng quan trọng và sâu sắc. Trước hết, công nghệ đã mang lại những thay đổi tích cực to lớn trong phương thức giao tiếp. Nhờ các nền tảng mạng xã hội, ứng dụng nhắn tin, gọi video, con người có thể liên lạc nhanh chóng, tiết kiệm thời gian và chi phí. Khoảng cách địa lý dường như bị xoá bỏ; cha mẹ có thể nhìn thấy con cái dù ở xa, bạn bè có thể trò chuyện dù cách nhau nửa vòng Trái Đất. Công nghệ cũng mở ra không gian giao tiếp đa chiều, nơi mỗi người có thể bày tỏ quan điểm, chia sẻ cảm xúc và tiếp nhận thông tin đa dạng. Đặc biệt trong công việc và học tập, công nghệ giúp hội họp, giảng dạy, trao đổi dữ liệu diễn ra dễ dàng hơn bao giờ hết, nhất là trong bối cảnh thế giới số hóa và hội nhập toàn cầu. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, việc lạm dụng công nghệ trong giao tiếp cũng gây ra nhiều hệ lụy đáng lo ngại. Sự tiện lợi của mạng xã hội khiến con người phụ thuộc vào thiết bị điện tử, dần mất đi kỹ năng trò chuyện trực tiếp và khả năng thấu cảm trong giao tiếp thực tế. Không ít người chọn cách “sống ảo”, chỉ quan tâm đến hình ảnh trên mạng mà quên đi những mối quan hệ thật. Việc trao đổi qua màn hình cũng dễ dẫn đến hiểu lầm, xung đột, bởi thiếu đi cảm xúc, giọng điệu, ánh mắt — những yếu tố tạo nên sự chân thành trong giao tiếp. Hơn nữa, thông tin sai lệch, tin giả lan truyền nhanh chóng trên không gian mạng đang ảnh hưởng tiêu cực đến nhận thức và hành vi của nhiều người, đặc biệt là giới trẻ. Để tận dụng tối đa lợi ích và hạn chế tác hại của công nghệ trong giao tiếp, mỗi người cần sử dụng công nghệ một cách thông minh và có chọn lọc. Chúng ta nên chủ động kiểm soát thời gian online, ưu tiên giao tiếp trực tiếp khi có thể, đồng thời giữ gìn sự văn minh, trung thực và tôn trọng trong không gian mạng. Gia đình, nhà trường và xã hội cũng cần giáo dục kỹ năng sử dụng công nghệ an toàn, định hướng cách giao tiếp phù hợp cho thế hệ trẻ trong thời đại số.
Câu 1 Thể loại: Truyện thơ Nôm
Câu 2 Văn bản kể về sự việc Lý Thông vu oan cho Thạch Sanh ăn trộm của cải trong kho, khiến Thạch Sanh bị bắt giam. Trong ngục, Thạch Sanh vẫn giữ lòng hiền lành, không oán hận, và gảy đàn kể lại nỗi oan, vạch trần tội ác của Lý Thông.
Câu 3 Sau khi hai mẹ con Lý Thông lấy trộm vàng bạc trong kho, họ vu cho Thạch Sanh là kẻ trộm để chàng bị bắt giam. Trong ngục, Thạch Sanh hiền lành, không hận thù, gảy đàn bộc lộ nỗi oan và nhắc đến công lao của mình. Tiếng đàn vang tới cung điện, khiến công chúa nhận ra Lý Thông đã lừa dối.
Câu 4 câu: “Cớ sao phụ nghĩa lại rày vong ân?”
Phân tích
Đây là câu hỏi tu từ, không nhằm mục đích hỏi thật mà để lên án, tố cáo hành động phản bội, vô ơn của Lý Thông.
Tác dụng :
Thể hiện nỗi uất ức, đau lòng của Thạch Sanh khi bị phản bội. Đồng thời, tố cáo tội ác và làm nổi bật phẩm chất cao đẹp, vị tha của chàng Thạch Sanh – người bị hại nhưng vẫn không hận thù.
Câu 5
Yếu tố hoang đường kì ảo: Tiếng đàn của Thạch Sanh vang đến tận cung vua, khiến công chúa nghe được và nhận ra sự thật.
Tác dụng : Làm cho câu chuyện thêm hấp dẫn, li kỳ, mang màu sắc thần kỳ đặc trưng của truyện dân gian.