Nông Thị Phương Thảo
Giới thiệu về bản thân
Thân Nhân Trung - một danh sĩ nổi tiếng dưới thời nhà Trần đã từng khẳng định: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì đất nước mạnh và càng lớn lao, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà càng xuống thấp”. Bởi vậy các bậc vua tài giỏi đời xưa, chẳng có đời nào lại không chăm lo nuôi dưỡng và đào tạo nhân tài bồi đắp thêm nguyên khí. Thời đại ngày nay, hiện tượng “chảy máu chất xám” đang “báo động” ở nước ta, trở thành vấn đề thách thức với sự phát triển và quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam. Hiện tượng “chảy máu chất xám” là cách gọi ẩn dụ để chỉ tình trạng mất đi nguồn lực nhân tài, trí thức, có năng lực, trình độ khi họ quyết định làm việc và định cư ở nước ngoài. Chảy máu chất xám khiến các quốc gia, ngành công nghiệp và tổ chức mất đi một phần cốt lõi là những cá nhân có giá trị của quốc gia mình. Một bộ phận nhân lực, trí thức tài giỏi, có năng lực của Việt Nam đang dần có xu hướng định cư và làm việc, phục vụ cho lợi ích của nước ngoài thay vì cống hiến cho dân tộc. Ngày nay có một lực lượng đông đảo người lao động Việt Nam có học thức, có trình độ đang làm việc, cống hiến ở nước ngoài thay vì về nước. Tình trạng “thất thoát” nhân tài làm cho Việt Nam rơi vào tình trạng thiếu hụt nhân tài trầm trọng, từ đó ảnh hưởng đến quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Hằng năm đất nước ta phải chi một loạt số tiền khủng để mời các chuyên gia từ nước ngoài về làm việc. Việt Nam là quốc gia có nhiều nhân tài nhưng luôn phải đối diện với tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực, phải mời từ những nơi khác. “Hiền tài thời nào cũng có”, thế nhưng đáng buồn thay, xã hội hiện đại đã có rất nhiều người tài từ chối làm việc ở Việt Nam để cống hiến cho một đất nước hiện đại, phát triển hơn. Nguyên nhân của tình trạng “chảy máu chất xám” cần được nhìn nhận dựa trên hai mặt chủ quan và khách quan. Về mặt chủ quan, xuất phát từ mong muốn được sống được làm việc môi trường tốt, thu nhập cao để lo cho gia đình của mình. Họ muốn bản thân mình phát triển hơn về nhiều mặt, được phát huy tối đa năng lực bản thân mình. Hiện nay quá trình hội nhập quốc tế và tham gia vào các tổ chức như WTO, ASEAN đã mở cửa cơ hội cho việc chuyển dịch lao động giữa các quốc gia. Thế nhưng, người Việt Nam có xu hướng ra nước ngoài làm việc và không có ý định trở về quê hương. Đối diện với thực trạng ấy, nhà nước đã có những chính sách thu hút nhân tài song thực tế lại không đáp ứng được mong đợi. Quá trình học tập và phát triển ở nước ngoài giúp họ đạt được nhiều thành tựu nhưng khi về nước lại không tìm được vị trí phù hợp. Về mặt khách quan, chế độ đãi ngộ của nước ta cũng là một trong những lí do quan trọng ảnh hưởng đến sự lựa chọn nơi làm việc của mọi người. Mức lương tối thiểu tại Việt Nam thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực và thường không hấp dẫn đối với những người trí thức trẻ, không đủ để đảm bảo cuộc sống tốt cho họ. Ngoài ra, sự phát triển khoa học công nghệ ở Việt Nam so với các quốc gia khác vẫn còn hạn chế, cản trở việc nghiên cứu và phát triển của các trí thức trẻ. Hệ thống giáo dục, cơ sở vật chất chưa được đầu tư, chưa thể đáp ứng nhu cầu học tập và nghiên cứu của sinh viên. Do đó, họ buộc phải đến những quốc gia phát triển để dễ dàng tiếp cận thành tựu khoa học kĩ thuật hơn. Hiện tượng “chảy máu chất xám” tại các quốc gia nghèo là một nguyên nhân quan trọng khiến khoảng cách giàu nghèo giữa các quốc gia ngày càng rõ rệt và gây ra những hậu quả khó lường đối với các nước đang phát triển như Việt Nam. Tình trạng học xong không trở về Việt nam sau khi du học ngày càng tăng, khoảng 70% du học sinh không muốn trở về. Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn lực chất lượng của Việt Nam. Nguồn chất xám bị chảy máu khiến kinh phí đào tạo của quốc gia không ngừng thất thoát. Hiện tượng này còn gây ra sự gián đoạn phát triển và thiệt hại lớn về kinh tế. Bên cạnh đó, nhiều công trình nghiên cứu khoa học không có nhân lực thực hiện, thành tựu khoa học kĩ thuật không được phổ biến và ứng dụng. Việc các nhà khoa học sang làm việc cho nước ngoài cũng tác động xấu đến người dân và các giới tri thức khác trong nước. Đây là một sự lãng phí lớn về tài sản quốc gia, làm chậm tốc độ phát triển nền kinh tế. Song, hiện tượng “chảy máu chất xám” không phải diễn ra với toàn bộ nguồn lực nhân tài, trí thức, có năng lực, trình độ ở Việt Nam. Chúng ta vẫn có những người trẻ tuổi sẵn sàng từ bỏ cơ hội ở nước ngoài để cống hiến sức lực và trí lực cho Tổ quốc. Trần Thế Trung, cựu học sinh Trường THPT chuyên Phan Bội Châu (Nghệ An) được biết đến không chỉ là Nhà vô địch Đường lên đỉnh Olympia năm 2019 mà còn là học sinh đầu tiên mang về vòng nguyệt quế trận chung kết năm cho trường chuyên này, anh cũng được biết đến là quán quân đầu tiên của Olympia không đi du học Úc. Trong bài phỏng vấn với đài truyền hình, Trung đã phát biểu rất ấn tượng: “Học ở trong nước cũng không phải điều gì đó không tốt, thậm chí cơ hội thành công vẫn mở ra nếu mình cố gắng. Ở đâu cũng sẽ có cơ hội, quan trọng là mình có chủ động nắm lấy hay không”. Vì thế, có thể thấy rằng vẫn có rất nhiều những người tài giỏi, có năng lực, trí thức và trình độ ở Việt Nam đang ngày ngày cống hiến cho Tổ quốc. Thậm chí ngay cả những người Việt đang làm việc và định cư ở nước ngoài, họ vẫn một lòng hướng về Tổ quốc, lan tỏa nét văn hoá, trí tuệ Việt ra khắp thế giới. Họ là nhân tố quan trọng góp phần tăng cường quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa nước ta với các nước trong khu vực và trên thế giới. Trong những thành tựu quan trọng mà đất nước ta đạt được ngày hôm nay có sự đóng góp vô cùng quý báu của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Là bộ phận không tách rời, là một nguồn lực quan trọng của cộng đồng dân tộc Việt Nam, kiều bào ta đồng thuận, ủng hộ sự nghiệp đổi mới và sẵn sàng chung tay, đóng góp cho công cuộc phát triển đất nước. Để xây dựng một đất nước Việt Nam giàu đẹp, để những nhân tài nước Việt có điều kiện để phát huy tài năng thì nhà nước cần có những biện pháp để chiêu mộ hiền tài phù hợp, tạo được điều kiện làm việc để thu hút họ. Đất nước cần có những chính sách để khai thác tối đa nguồn lực của đất nước mình. Mặt khác mỗi người cũng cần phát huy tình yêu nước, tinh thần dân tộc để làm theo lời Bác, sẵn sàng cống hiến tài năng, sức lực để đưa đất nước đi lên. Có thể thấy, mặc dù các nước phát triển như Mỹ, Anh, Pháp,... là môi trường vô cùng tốt để học tập và làm việc, thế nhưng đất nước ta mới chính là quê hương, là nơi đã nuôi dưỡng ta trưởng thành. Con đường học tập của tôi sau này còn rất dài và nhiều chông gai, tôi hiểu rằng mình cần nỗ lực trau dồi học tập, tu dưỡng đạo đức để ngày càng hoàn thiện bản thân. Đất nước mình đang đứng trước nhiều khó khăn, thử thách, mỗi người cần tự ý thức tình hình đất nước, nhận thức rõ trách nhiệm của bản thân trong việc xây dựng và phát triển đất nước. Tôi hiểu rằng, quê hương mình đang cần những người trẻ như chúng ta, cần sức trẻ để cống hiến và phục vụ cho đất nước. Hãy lấy khát vọng cống hiến cho Tổ quốc làm lẽ sống của thanh niên. Hãy tận dụng tất cả những sức mạnh về thể lực cũng như trí lực để giúp quê hương mình ngày càng giàu mạnh, phát triển hơn. Đất nước ta đã trải qua ngàn năm lịch sử, như Nguyễn Trãi cũng từng nói: “Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau, song hào kiệt đời nào cũng có”, ông cha ta đã biết dựa vào thế mạnh đó để xây dựng đất nước vững mạnh, trường tồn. Vậy nên, chúng ta cần có những biện pháp thiết thực, hiệu quả để giảm thiểu hiện tượng “chảy máu chất xám”, phát huy mạnh mẽ truyền thống trọng người hiền tài để đưa đất nước tiến lên, ngày càng phát triển và tiến bộ
câu 1 : nghị luận
câu 2 : nguyeenx traix
câu 3 : mục đích chính là kêu gọi , thuyết phục những người có tài , có đức đang ẩn dật hoặc chưa ra làm quan hãy ứng cử , cống hiến sức mình để xây dựng triều đại mới và đất nuiowcs mới
- những đường lối tiến cử : + tự mình tiến cử : người có tài tự viết bản tâu bày việc nước , bày tỏ nguyện vọng ra giúp đời
+ đươc người khác tiến cử : các quan lại , hào mục hoặc người dân thấy ai có tài đức thì tiến cử lên triều đình
+ dâng sớ kế hiến : cho phép mọi người dâng sớ trình bày ý kiến , kế sách để xây dựng đất nước
câu 4 :
dân chứng : tác giả sử dụng điển tích về Mao Toại ( tự tiến cử với Bình Nguyên quân ) và Ninh Thích ( gõ sừng trâu hát để được tề hoàn công trọng dụng )
nx : cách nêu dân chứng rất thuyết phục , lấy gương sáng từ lịch sử để xóa bỏ tâm lí e ngại " tự khoe tài " của kẻ sĩ ' . Nó cho thấy thái độ cởi mở , không định kiến của nhà vua , giúp người tài cảm thấy được tôn trọng và tự tin ra giúp nước
câu 5 : thông qua văn bản , ta thấy nguyễn trãi là một vị minh quân có tấm lòng cầu thị và vô cùng trọng dụng nhân tài . Ông không dùng uy quyền để ép buộc mà dùng lời lẽ chân thành , khiếm nhường để mời gọi những người cso đức , có tài ra giúp nước . bên cạnh đó , ông còn thể hiện tấm lòng nhìn xa trông rộng và tinh thần dân chủ khi mở cửa cho mọi tầng lớp sĩ phu được tiến cử hoặc đề xuất kế sách . Tất cả những điều đó đều xuất phát từ lòng yêu nước , thương dân sâu sắc , khát khao xây dựng một đất nước thái bình và vững mạnh
câu 1
Việc giữ gìn những gIá trị truyền thống của dân tộc có ý nghĩa vô cùng quan trọng , bởi lẽ đó chính là hồn cốt , là bản sắc riêng biêt làm nên một quốc gia , phân biệt ta với các dân tộc khác trên thế giới . Những giá trị này bao gồm ngôn ngữ , phong tục tập quán , các lễ hội , nghệ thuật dân gian và những chuẩn mực đạo đức , lối sống , là sợi dân kết nối vô hình nhưng bền chặt , giúp chúng ta liên hệ với cội nguồn , với lịch sử hào hùng của cha ông . Chúng đóng vai trò như một kim chỉ nam đạo đức , hướng dẫn hành vi , định hình nhân cách và tạo nên sự đồng thuận , gắn kết chặt chẽ trong cộng đồng . Trong bối cảnh toàn cầu hóa mạnh mẽ hiện nay , khi các nền văn hóa có xu hướng giao thừa và hòa trộn , việc bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết . Đó là tấm khiêng vững chắc giúp dân tộc không bị hòa tan , không đánh mất đi chính mình trước những luồng văn hóa ngoại lai có phần lấn ắt . Một dân tộc vững mạnh không chỉ nhờ kinh tế phát triển mà còn nhờ vào nền tảng văn hóa vững chắc . Thiếu đi những giá trị cốt lõi này , thế hệ trẻ sẽ trở nên lạc lõng , mất phương hướng không có điểm tựa tinh thần . Do đó mỗi cá nhân , đặc biệt là thế hệ trẻ cần ý thức rõ trách nhiệm của mình trong việc học hỏi , kế thừa và phát huy những di sản văn hóa quý báu đó , để ngọn lửa truyền thống mãi soi sáng con đường phát triển bền vững của đất nước , để bản sắc dân tộc luôn rực rỡ
CÂU 2
Hồ Xuân Hương là một nữ thi sĩ sống khoảng cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX, quê quán Quỳnh Đôi – Quỳnh Lưu – Nghệ An. Là người nổi tiếng với những sáng tác thơ bằng chữ Nôm, bà đã được nhân dân mệnh danh là bà chúa thơ Nôm với nhiều sáng tác nổi tiếng về đề tài bênh vực, đề cao phụ nữ và để kích thói đạo đức giả của quan lại vua chúa. Và một trong số các bài thơ tiêu biểu của Hồ Xuân Hương có thể kể đến chính là tác phẩm Mời trầu.Ngay từ khi còn rất nhỏ, Xuân Hương đã thể hiện là một cô gái cá tính, thông minh và chăm chỉ. Đặc biệt, bà có biệt tài làm thơ phú rất đặc sắc. Lớn lên trong giai đoạn xã hội phong kiến, trọng nam khinh nữ, nên tâm hồn bà đã ít nhiều bị ảnh hưởng, điều đó cũng tác động tới những sáng tác của bà.Thi sĩ Hồ Xuân Hương có ngoại hình xinh đẹp, tính tình lại phóng khoáng, quen nhiều biết rộng. Tuy nhiên dường như “hồng nhan thì bạc phận” nên đường tình duyên của bà vô cùng lận đận. Mặc dù lấy hai đời chồng nhưng lần nào bà cũng phải làm lẽ và không có con. Cuối cùng, bà phải sống lẻ loi trong cô độc khi người chồng thứ hai chết.Người đời không chỉ biết đến thi sĩ Hồ Xuân Hương là một con người tài hoa, nhan sắc mà còn là “bà chúa thơ Nôm”. Bởi có lẽ, trong nên văn học Hán Nôm, chưa ai có khả năng sử dụng chữ Nôm hay và độc đáo như mà. Hầu hết bà sử dụng thể thơ thất ngôn bát cú đường luật (tám câu bảy chữ) hoặc thất ngôn tứ tuyệt (bốn câu bảy chữ) trong các sáng tác của mình. Điển hình một số tác phẩm của bà đã được đưa vào chương trình giáo dục của một số khối lớp như: Bánh trôi nước, Mời trầu…
Toàn bài thơ chỉ gói gọn trong 4 câu nhưng lại chứ đựng những thông điệp vô cùng ý nghĩa và sâu cay.
“Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi,
Này của Xuân Hương mới quệt rồi.
Có phải duyên nhau thì thắm lại,
Đừng xanh như lá, bạc như vôi”
Mời trầu là một hình giao tiếp thường xuất hiện trong văn hóa của người Việt Nam. Khi khách đến nhà, người chủ nhà sẽ thường mời trầu, mời nước sau đó mới bắt đầu câu chuyện. Mời trâu không chỉ là nét đẹp truyền thống dân gian mà còn là tục lễ trong các đám rước dâu, cưới hỏi. Khi nhà trai tới hỏi chuyện nhà gái, bao giờ cũng có cơi trầu để bày tỏ nỗi niềm và mong muốn kết mối lương duyên. Bởi thế, mời trầu là hình ảnh tượng trưng cho hạnh phúc lứa đôi, là minh chứng cho sự nên duyên vợ chồng, là niềm vui, là sự chung thủy. Nếu là người thường, mời trầu sẽ chỉ là hình thức thủ tục cần phải có, nhưng trong mắt Hồ Xuân Hương, mời trầu đã nói lên cả một số phận, cả một cuộc đời con người.
Tác giả miêu tả trực tiếp hình dáng quả cau. Đó là quả cau nhỏ nhỏ xinh xinh, chứ không là quả cau to tròn mập. Nho nhỏ ở đây còn ví như thân phận con người bé nhỏ trong cái xã hội phong kiến đầy rầy bất công. Nho nhỏ như số phận của những người phụ nữ trong xã hội trong nam khinh nữ ấy.
Tiếp đến là hình ảnh miếng trầu. Bà không bảo là miếng trầu thơm mà lại là “miếng trầu hôi”. Phải chăng bà đang xót thương cho chính mình và những người phụ nữ, luôn bị xã hội vùi dập và chà đạp.
“Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi,
Dù họ có xinh đẹp, có tài năng, như thế nào thì ở trong xã hội ấy vẫn không được coi trọng. Có lẽ chính những trải nghiệm cuộc đời mà thi sĩ Hồ Xuân Hương mới có cái nhìn thấu đáo tới thân phận người phụ nữ đến vậy. Bà xót thương cho họ cũng chính là khóc thương chính mình.
Phân tích bài thơ Mời trầu của Hồ Xuân Hương, độc giả bất ngờ khi thấy tên tác giả xuất hiện. Có lẽ chưa ai như bà, biến mình thành nhân vật chính với lời khẳng định chắc nịch và đầy khảng khái, quyết liệt như thế.
“Này của Xuân Hương mới quệt rồi” Bà không hề dịu dàng, mà mạnh mẽ quả quyết khẳng định chủ quyền của mình với miếng trầu vừa được mời kia. Bà đã quyệt vôi vào đấy rồi, bà đã có ý định ăn miếng đó rồi nên nó là của Xuân Hương đấy. Một câu thơ nghe như là một lời tuyên bố thẳng thừng. Đồng thời vừa cảnh cáo những kẻ le ve xung quanh đừng có mà nhăm nhe đồ của Xuân Hương nữa. Theo nghĩa đen có thể hiểu nôm na là thế, nhưng ẩn sau đó là tâm tình của “bà chúa thơ Nôm”. Không phải ai cũng dám khảng khái đưa tên mình vào thơ ca như bà. Nhưng bà hiểu mình là ai. Bà hiểu mình đang làm gì và muốn gì. Do đó, bà mới có thể không ngại ngần xướng tên lên như thế. Đồng thời qua đó, bà cũng muốn nhắc nhở thế gian, Hồ Xuân Hương là người phụ nữa đã trải đời nhiều rồi. Nên bà không e dè, cũng không sợ hãi để luồn cúi. Dù xã hội có thối nát đến đâu, thì bà vẫn sẽ giữ mãi những nét riêng của bà, những điều thuộc về bà. Thật là một người phụ nữ mạnh mẽ và kiên trung, không phải ai thời đó cũng có được đức tính đó.
Có phải duyên nhau thì thắm lại,
Trong các tiệc cưới hỏi luôn luôn có sự xuất hiện hình ảnh miếng trầu. Và khi những người tham gia tiệc vui ấy ăn trầu, thường đôi môi sẽ đỏ thắm lên. Cũng đồng nghĩa với việc mối tơ duyên ấy đã thành công. Ở đây, tác giả không ngần ngại hỏi đối phương “có phải duyên nhau”. Mặc dù là nữ giới, nhưng tác giả đã chủ động để tìm kiếm tình yêu. Xuân Hương không ngồi chờ đợi để cha mẹ đặt đâu ngồi đấy, mà tự mình tìm kiếm, quyết định hạnh phúc lứa đôi. Tác giả không sợ mang tiếng là con gái mà “cọc đi tìm trâu”. Thi sĩ chỉ biết rằng, nếu đã phải duyên nhau thì nên thắm lại, đừng dùng dằng mà khiến hai bên đau khổ.
Phân tích bài thơ Mời trầu của Hồ Xuân Hương, càng về cuối càng thấy rõ cá tính mạnh mẽ, phóng khoáng, tụ do tự tại của thi sĩ. Bà luôn yêu cái đẹp, khát khao niềm hạnh phúc lứa đôi. Bà cảm thương cho số phận người phụ nữ trong xã hội cũ. Bà dám đứng lên để đi tìm tình yêu của mình. Nhưng bà cũng hiểu, xã hội ấy không phải lúc nào cũng như y muốn. Bởi thế bà nhắc nhớ một ai đó còn đang do dự, còn đang dùng dằng nửa vời rằng:
“Đừng xanh như lá, bạc như vôi” Màu xanh của lá, màu trắng của vôi vốn là màu đẹp của tự nhiên. Thế nhưng qua con mắt của “bà chúa thơ Nôm” nó trở nên thật thâm thúy. Bạc ở đây là bạc tình bạc nghĩa. Bà ý nói những người có duyên với nhau rồi thì hãy biết trân trọng, hãy thắm thiết chứ đừng nhạt nhòa non nớt như màu xanh của lá, đừng phụ bạc lẫn nhau để rồi mà đau khổ.
Có lẽ những trải nghiệm trong cuộc đời đã khiến bà có cái nhìn đa sầu đa cảm hơn đối với các sự vật sự việc. Cơi trầu với những miếng trầu têm cánh phượng càng trở nên đẹp đẽ, ý nghĩa và quan trọng hơn bao giờ hết trong thơ bà. Nhờ có Hồ Xuân Hương, mà những sự vật vốn chỉ là các món ăn như bánh trôi nước, miếng trầu trở nên có sức sống. Nó không chỉ là hình tượng điển hình cho số phận người phụ nữ mà còn chứa đựng những thông điệp cuộc sống, về tình yêu lứa đôi thật sâu cay.
Phân tích bài thơ Mời trầu của “bà chúa thơ Nôm” không thể không nhắc tới tài nghệ dùng nghệ thuật của tác giả. Đặc biệt là thể thơ thất ngôn tứ tuyệt. Đây là thể thơ có quy luật nghiêm khắc về luật, niêm và vần (theo bằng trắc) và có bố cục rõ ràng. Ta có thể thấy điều này thể hiện rõ trong cách gieo vần của bài Mời trầu.
Vần ở các câu 1, 2, 4 hoặc chỉ các câu 2, 4 hiệp vần với nhau ở chữ cuối. Cụ thể ở đây là “hôi”, “rồi” “vôi”. Bốn câu trong bài Mời trầu được viết đúng theo thứ tự là các câu: khai, thừa, chuyển, hợp. Thật là một cách hành thơ xuất sắc và độc đáo. Chính cái tài này mà những bài thơ của bà vẫn được đông đảo độc giả đón đọc và yêu thích.
Bàn luận về “bà chúa thơ Nôm” Hồ Xuân Hương thì chẳng bao giờ hết chuyện. Bởi xung quanh cuộc đời bà còn vô số những giai thoại hấp dẫn. Giống như chuyện truyền kỳ về những nữ nhi thời phong kiến tuyệt sắc giai nhân nhưng lại có số phẩn long đong, lận đận.
Trên cái nền của lối thơ, biểu tượng ỡm ờ hai mặt truyền thống, bài thơ "Mời trầu" chắc hẳn không chỉ gắn với ỷ nghĩa phê phán cụ thể nào đó (nếu có), mà căn bản hơn là tiếng lòng thâm trầm sâu lắng, khát khao hạnh phúc, khát khao giao cảm với đời, khát khao mong chờ tiếng đồng vọng, hay là chiếc xương sườn thứ bảy còn vô tăm tích nơi xa