Trần Đức Anh

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Trần Đức Anh
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)


Câu 1 Viết đoạn văn khoảng 200 chữ

Bài thơ Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão là tiếng nói hào hùng của một con người mang chí khí lớn trong thời đại hào khí Đông A. Hai câu đầu gợi ra không khí trận mạc sôi sục với những hình ảnh giàu sức gợi: “hoành sóc” thể hiện tư thế hiên ngang của người chiến tướng, còn “tam quân tỳ hổ khí thôn ngưu” là hình tượng phóng đại, so sánh đầy tự hào về sức mạnh quân đội nhà Trần. Đó không chỉ là khí thế chiến đấu mà còn là biểu tượng cho sức mạnh của cả dân tộc trong những năm tháng chống giặc Nguyên – Mông. Hai câu cuối bộc lộ trực tiếp nỗi lòng của người anh hùng: coi công danh là “nợ” phải trả và luôn lấy tấm gương Vũ hầu để tự soi mình. Nội dung bài thơ vì thế vừa ngợi ca sức mạnh dân tộc, vừa thể hiện lý tưởng sống cao đẹp của bậc trượng phu: dấn thân, lập công với non sông. Về nghệ thuật, bài thơ đặc sắc ở bút pháp cô đọng, hình tượng lớn lao, ngôn ngữ hàm súc, sử dụng thành công các biện pháp ẩn dụ, phóng đại và hình ảnh giàu giá trị biểu trưng. Chính sự hòa quyện hài hòa giữa chất sử thi và chất trữ tình đã tạo nên vẻ đẹp bất hủ cho tác phẩm.





Câu 2 : Bài văn nghị luận khoảng 600 chữ



Trong mỗi giai đoạn lịch sử, thế hệ trẻ luôn giữ vai trò quan trọng đối với vận mệnh đất nước. Ngày nay, khi hòa bình được giữ vững và đất nước bước vào thời kỳ phát triển mạnh mẽ, trách nhiệm của người trẻ không mất đi mà càng trở nên lớn lao, đòi hỏi sự ý thức và hành động thiết thực hơn bao giờ hết.

Trước hết, thế hệ trẻ cần có lý tưởng sống đúng đắn, đặt lợi ích của cộng đồng và quốc gia lên trên những nhu cầu vị kỷ. Mỗi người trẻ phải hiểu rằng sự phát triển của Tổ quốc gắn liền với sự nỗ lực của từng cá nhân. Có lý tưởng, con người mới có mục tiêu để phấn đấu, giống như những bậc tiền nhân xưa luôn xem việc cống hiến cho nước nhà là bổn phận thiêng liêng.

Thứ hai, trách nhiệm của người trẻ còn thể hiện ở việc trau dồi tri thức, kỹ năng và bản lĩnh. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, tri thức trở thành nguồn lực quyết định sức mạnh quốc gia. Thanh niên nếu không học tập nghiêm túc, không rèn luyện tư duy khoa học và phẩm chất đạo đức thì khó có thể đáp ứng yêu cầu của một xã hội hiện đại. Học để làm chủ công nghệ, để sáng tạo, để cạnh tranh lành mạnh và góp phần đưa đất nước tiến kịp thế giới.

Bên cạnh đó, thế hệ trẻ cần có tinh thần trách nhiệm với các vấn đề xã hội: bảo vệ môi trường, gìn giữ văn hóa dân tộc, tham gia các hoạt động thiện nguyện, lan tỏa lối sống nhân ái. Những hành động nhỏ như tuân thủ pháp luật, ứng xử văn minh trên mạng, giúp đỡ người gặp khó khăn, giữ gìn hình ảnh đất nước… đều góp phần tạo nên giá trị lớn cho cộng đồng. Trách nhiệm không phải điều gì xa vời mà chính là những việc hằng ngày ta làm với ý thức tự giác và tình yêu quê hương.

Cuối cùng, người trẻ cần nuôi dưỡng tinh thần dấn thân và khát vọng cống hiến. Đất nước đang đứng trước nhiều cơ hội và thách thức: chuyển đổi số, biến đổi khí hậu, cạnh tranh kinh tế… và mỗi thanh niên phải là một mắt xích năng động trong quá trình ấy. Không ngại khó, không ngại thay đổi, dám đảm nhận việc lớn – đó là phẩm chất mà thế hệ trẻ hôm nay cần phát huy để tiếp nối truyền thống dựng nước và giữ nước của cha ông.

Tóm lại, trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với đất nước thể hiện ở lý tưởng sống, tri thức, bản lĩnh và hành động thiết thực vì cộng đồng. Khi người trẻ sống có hoài bão và biết cống hiến, tương lai của đất nước sẽ được bảo đảm bằng chính sức mạnh của họ. Và mỗi chúng ta, trong giới hạn khả năng của mình, hãy bắt đầu từ những việc nhỏ nhất để xứng đáng với niềm tin mà Tổ quốc gửi gắm.



Câu 1. Xác định thể thơ của bài thơ.

Bài Thuật hoài được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật.

Câu 2. Xác định luật thơ của bài thơ.

Bài thơ tuân theo niêm – luật – đối của thơ Đường luật:

  • Thất ngôn (mỗi câu 7 chữ).
  • Tứ tuyệt (4 câu).
  • Vần bằng, gieo vần ở cuối câu 1, 2, 4.
  • Câu 3–4 mang nội dung đối ứng, nhấn mạnh tư tưởng “nợ công danh”.

**Câu 3. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ trong câu:

“Tam quân tì hổ khí thôn ngưu”.**

Biện pháp tu từ chính: so sánh – ẩn dụ phóng đại (quân đội mạnh như hổ báo; khí thế nuốt trôi trâu / át cả sao Ngưu).

Tác dụng:

  • Khắc họa sức mạnh hùng dũng, mãnh liệt của quân đội nhà Trần.
  • Gợi không khí hào khí Đông A, niềm tự hào dân tộc trong buổi đầu chống Nguyên – Mông.
  • Tôn vinh vị thế của người trai thời loạn, góp phần làm nổi bật tâm thế “anh hùng vệ quốc” của tác giả.

Câu 4. Nhận xét về hình tượng bậc nam tử trong Thuật hoài.

Hình tượng nam tử hiện lên:

  • Hào hùng, hiên ngang: “hoành sóc” – tư thế tay cầm giáo bảo vệ non sông.
  • Mang trong mình chí khí lớn: gắn đời trai với trách nhiệm đối với đất nước.
  • Tự ý thức sâu sắc về nghĩa vụ lập công danh: coi “công danh” là món “nợ” phải trả.
  • Biết hổ thẹn để vươn lên: thẹn với Vũ hầu → chuẩn mực lý tưởng cao đẹp, khát vọng cống hiến.

Đây là hình tượng nam tử tiêu biểu của thời Trần: mạnh mẽ, trung dũng, sống có lý tưởng và hoài bão.





Câu 5. Rút ra một thông điệp từ văn bản mà anh/chị tâm đắc và giải thích

Thông điệp gợi ý:

Mỗi con người cần sống có lý tưởng, có trách nhiệm với cộng đồng, với đất nước; phải nỗ lực để không thẹn với chính mình và những tấm gương lớn của thời đại.

Giải thích:

Bài thơ khơi dậy tinh thần cống hiến, đặt lợi ích quốc gia lên trên. Hình ảnh tác giả hổ thẹn khi chưa trả xong “nợ công danh” nhắc nhở mỗi người phải sống có mục đích, không ngừng phấn đấu để xứng đáng với truyền thống cha ông và với chính giá trị mà mình lựa chọn.