Ngô Chấn Phong
Giới thiệu về bản thân
A)
Khởi nghĩa Hương Khê có thời gian tồn tại lâu nhất (hơn 10 năm, từ 1885 - 1896) so với các cuộc khởi nghĩa khác trong phong trào Cần vương.
Khởi nghĩa Hương Khê diễn ra trên địa bàn rộng lớn nhất, khắp 4 tỉnh Bắc Trung Kì (Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình).
Trình độ tổ chức lực lượng của khởi nghĩa Hương Khê rất quy củ: nghĩa quân được chia làm 15 thứ quân (mỗi thứ quân có từ 100 cho đến 500 người) do các tướng lĩnh tài ba chỉ huy; giữa các thứ quân có sự chỉ huy thống nhất, phối hợp khá chặt chẽ...
Vũ khí chiến đấu của nghĩa quân Hương Khê có sự tiến bộ hơn. Bên cạnh các loại vũ khí thô sơ như: giáo mác, đại đao,... tướng Cao Thắng còn tổ chức cướp súng giặc, rồi nghiên cứu, chế tạo súng trường theo kiểu Pháp trang bị cho nghĩa quân.
Nghĩa quân Hương Khê có phương thức tác chiến linh hoạt, sáng tạo. Bên cạnh việc dựa vào địa thế núi rừng hiểm trở và hệ thống công sự chằng chịt để tiến hành chiến tranh du kích; nghĩa quân Hương Khê còn phân tán hoạt động, đánh địch với nhiều hình thức khác nhau như: công đồn, chặn đường tiếp tế của giặc...
Nghĩa quân Hương Khê đẩy lùi nhiều đợt tấn công của thực dân Pháp, gây cho Pháp nhiều tổn thất.
B)
1. Đóng góp của vua Gia Long (trị vì 1802 – 1820)
Vua Gia Long là người đặt nền móng quản lý nhà nước một cách chính thức và đồng bộ trên hai quần đảo này:Về hành chính: Đưa hai quần đảo vào cơ cấu quản lý hành chính của nhà nước, cụ thể thuộc tỉnh Quảng Ngãi.Tái lập các hải đội: Cho tái lập lại đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải vào năm 1803 để thực hiện nhiệm vụ khai thác sản vật và quản lý Biển Đông.Khẳng định chủ quyền chính thức: Năm 1816, ông sai thủy quân triều đình phối hợp với đội Hoàng Sa ra thăm dò, đo đạc thủy trình và cắm cờ xác nhận chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa.
2. Đóng góp của vua Minh Mạng (trị vì 1820 – 1841)
Vua Minh Mạng đã đưa việc thực thi chủ quyền lên một tầm cao mới bằng các hoạt động có hệ thống và quy mô hơn:Đo đạc và vẽ bản đồ: Sai thủy quân và vệ Giám thành ra Hoàng Sa để đo đạc và vẽ bản đồ chi tiết (như chuyến đi của Trương Phúc Sĩ năm 1834). Những dữ liệu này góp phần hoàn thành bộ Đại Nam nhất thống toàn đồ (1838) – bản đồ hành chính đầu tiên thể hiện rõ chủ quyền của nước ta.Cắm mốc và dựng bia: Năm 1836, ông lệnh cho Chánh đội trưởng thủy quân Phạm Hữu Nhật mang các cọc gỗ có khắc chữ ra cắm mốc chủ quyền tại Hoàng Sa.Xây dựng cơ sở hạ tầng: Sai quân dân ra Hoàng Sa để dựng miếu thờ, lập bia đá và trồng cây để làm dấu hiệu cho tàu thuyền qua lại.Công tác cứu hộ quốc tế: Chỉ thị cho thủy quân thực hiện các hoạt động cứu hộ, giúp đỡ tàu thuyền nước ngoài gặp nạn trên vùng biển Hoàng Sa, thể hiện trách nhiệm của quốc gia chủ quyền.Ghi danh vào bảo vật quốc gia: Cho khắc hình ảnh và tên gọi các vùng biển, đảo (trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa) lên Cửu đỉnh đặt trước Thế Miếu ở Huế để khẳng định sự thống nhất và chủ quyền bền vững.
c. Khí hậu
Nhiệt độ: khá cao, trên 23 độ c, biên độ nhiệt nhỏ hơn đất liền.
Lượng mưa: nhỏ hơn trên đất liền khoảng trên (1100 mm/năm).Gió trên biển: thay đổi theo mùa và mạnh hơn trên đất liền.
Thiên tai: bão, lốc, áp thấp nhiệt đới...
d. Hải văn
Độ muối trung bình là 32 - 33%
.Dòng biển: thay đổi theo mùa: mùa đông, dòng biển có hướng đông bắc - tây nam; mùa hạ, là tây nam - đông bắc.
Chế độ thủy triều: nhật triều đều, nhật triều không đều, bán nhật triều và bán nhật triều không đều.
e. Khoáng sản
Thềm lục địa có: dầu mỏ, khí tự nhiên
.Ven biển có 1 số khoáng sản: titan, niken, cát...
Đáy biển có trữ lượng băng cháy khá lớn. Băng cháy là hỗn hợp đông lạnh của nước và khí tự nhiên, đậm đặc dưới điều kiện áp suất thấp dưới 0 độ - Các loại khí thiên nhiên do vi sinh vật tạo ra để tạo nên băng cháy thường là Methane, ethane, propan...).
Màu sắc băng cháy: trắng, vàng, đỏ, nâu...