Ngô Minh Khánh
Giới thiệu về bản thân
- Mở đoạn: Giới thiệu tên bài thơ, tác giả Trần Đăng Khoa và ấn tượng chung (vẻ đẹp bình dị, hồn nhiên của làng quê).
- Thân đoạn:
- Nêu cảm nhận về hình ảnh cây đa: Cây đa không chỉ là một loài cây mà như một người bạn, một "nhân chứng" của làng quê (gợi nhắc chi tiết trong thơ như "Cây đa nghìn năm tuổi / Trông như cụ già hiền").
- Nêu cảm nhận về nghệ thuật: Cách nhân hóa độc đáo, ngôn ngữ giản dị nhưng giàu sức gợi.
- Tình cảm của tác giả: Sự gắn bó thiết tha, tình yêu quê hương sâu nặng qua cái nhìn trẻ thơ.
- Kết đoạn: Khẳng định giá trị của bài thơ và cảm xúc đọng lại trong lòng em.
Bài thơ "Cây đa" của "thần đồng" Trần Đăng Khoa đã để lại trong em những rung động sâu sắc về vẻ đẹp thanh bình của làng quê Việt Nam. Qua ngòi bút hồn nhiên, cây đa hiện lên không chỉ là một đại thụ già cỗi mà như một người ông hiền hậu, che chở cho dân làng. Hình ảnh so sánh "Cây đa nghìn năm tuổi / Trông như cụ già hiền" cùng các biện pháp nhân hóa độc đáo đã thổi hồn vào sự vật, khiến cây đa trở nên gần gũi, có tâm hồn. Bài thơ không chỉ tả cây mà còn gửi gắm tình yêu quê hương tha thiết, sự gắn bó máu thịt với mảnh đất chôn rau cắt rốn của tác giả. Đọc bài thơ, em cảm thấy trân trọng hơn những giá trị truyền thống và thêm yêu vẻ đẹp bình dị quanh mình.
Câu 2 (4,0 điểm): Kể lại một trải nghiệm đáng nhớ cùng người thân Gợi ý dàn ý:
- Mở bài: Giới thiệu về trải nghiệm đó là gì? (Ví dụ: Một chuyến đi du lịch, một buổi cùng mẹ nấu cơm tất niên, hoặc một lần cả nhà cùng vượt qua khó khăn...).
- Thân bài:
- Hoàn cảnh xảy ra: Thời gian, địa điểm, những người tham gia.
- Diễn biến sự việc:
- Sự việc bắt đầu như thế nào?
- Các hoạt động chính (có sự tương tác giữa em và người thân).
- Tình huống đáng nhớ nhất trong trải nghiệm đó là gì?
- Cảm xúc lúc đó: Vui vẻ, xúc động, hay biết ơn?
- Kết bài: Ý nghĩa của trải nghiệm đó đối với em (giúp em hiểu thêm về tình cảm gia đình, bài học rút ra) và lời hứa với người thân.
- Cùng bố trồng cây trong vườn vào ngày nghỉ.
- Cùng mẹ đi chợ Tết và chuẩn bị mâm cơm cúng ông bà.
- Một chuyến về thăm quê nội/ngoại cùng cả gia đình.
- Vần được gieo là vần "ông" (vần chân): đồng – mông ("mương nước giữa đồng – biển lúa vàng mênh mông").
- Cây đa che chở, nuôi dưỡng cho: gió, chim, ve, con trâu, đàn bò và các bác nông dân làm việc ngoài đồng (đến nghỉ mát).
- Bức tranh làng quê hiện lên rất thanh bình, tươi đẹp và giàu sức sống:
- Màu sắc rực rỡ: xanh của lá, bạc của nước, vàng của lúa, hồng của lông bò.
- Âm thanh rộn ràng: tiếng ve kêu, tiếng lá rì rào.
- Nhịp sống thong thả, bình yên với hình ảnh con trâu nhai cỏ, đàn bò đủng đỉnh về chuồng.
- Biện pháp tu từ: Nhân hóa ("gọi gió đến", "vẫy chim về", "nuôi thêm nhiều ve").
- Tác dụng:
- Làm cho cây đa trở nên sinh động, có hồn như một con người hiếu khách, giàu lòng yêu thương.
- Nhấn mạnh vai trò của cây đa như một "mái nhà" ấm áp, là nơi tụ hội của thiên nhiên, muôn loài.
- Thể hiện cái nhìn hồn nhiên, yêu mến thiên nhiên của tác giả.
- Gợi ý đoạn văn (5 - 7 câu):
Hình ảnh cây đa và khung cảnh làng quê trong bài thơ đã khơi gợi trong em tình yêu thương và niềm tự hào sâu sắc về nơi mình sinh ra. Em cảm nhận được sự gắn bó, che chở của thiên nhiên đối với con người và vạn vật, tạo nên một không gian sống thật yên bình. Qua đó, em thấy mình cần có trách nhiệm hơn trong việc giữ gìn những nét đẹp ấy. Em sẽ luôn có ý thức bảo vệ môi trường, không ngắt lá bẻ cành hay làm hại cây cối xung quanh. Đồng thời, em sẽ cố gắng học tập thật tốt để sau này góp phần xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, văn minh mà vẫn giữ được hồn cốt, bản sắc truyền thống.
- Kí hiệu chậu giặt: Chỉ dẫn cách giặt (nhiệt độ nước, giặt tay/máy, v.v.).
- Kí hiệu hình vuông: Chỉ dẫn cách sấy khô.
- Kí hiệu bàn là: Chỉ dẫn cách ủi (nhiệt độ).
- Kí hiệu tam giác: Chỉ dẫn cách tẩy trắng.
- Kí hiệu vòng tròn: Chỉ dẫn cách giặt khô chuyên nghiệp.
- Bước 1: Chuẩn bị bàn là và bình phun nước.
- Bước 2: Điều chỉnh nhiệt độ của bàn là phù hợp với từng loại vải.
- Bước 3: Phun nước làm ẩm vải (nếu cần).
- Bước 4: Là quần áo.
- Chọn nhiệt độ thích hợp cho từng loại vải.
- Là theo chiều dọc của vải, không để bàn là lâu trên một chỗ.
- Sau khi là xong, rút phích cắm điện, dựng bàn là chờ nguội rồi cất vào nơi quy định.
- Nên là những nơi dày trước rồi mới đến những nơi mỏng.
nghĩa các kí hiệu trên nhãn quần áo: Các kí hiệu trên nhãn quần áo trong hình ảnh có ý nghĩa là: giặt máy ở nhiệt độ tối đa 40°C, không được tẩy, ủi ở nhiệt độ thấp, và không được giặt khô.
- Kí hiệu hình chậu nước với số "40°" bên trong y nghĩa là có thể giặt máy với nhiệt độ nước tối đa là 40°C.
- Kí hiệu hình tam giác có dấu "X" gạch chéo nghĩa là không được sử dụng chất tẩy trắng (thuốc tẩy).
- Kí hiệu hình bàn ủi có một dấu chấm bên trong nghĩa là có thể ủi ở nhiệt độ thấp.
- Kí hiệu hình tròn có dấu "X" gạch chéo nghĩa là không được giặt khô (không sử dụng dịch vụ giặt khô chuyên nghiệp).
- Phân loại quần áo: Tách quần áo trắng và quần áo màu, hoặc theo chất liệu vải để giặt riêng.
- Kiểm tra và xử lý sơ bộ: Lấy hết vật dụng trong túi quần áo và xử lý sơ các vết bẩn cứng đầu trước khi giặt toàn bộ.
- Chuẩn bị dung dịch giặt: Pha bột giặt hoặc nước giặt vào nước.
- Ngâm quần áo: Ngâm quần áo khoảng 15-20 phút để xà phòng thấm đều và làm sạch vết bẩn dễ dàng hơn.
- Vò và giặt: Vò, chà xát kỹ các chỗ bẩn, đặc biệt là cổ áo, tay áo.
- Xả sạch xà phòng: Xả quần áo nhiều lần dưới vòi nước sạch cho đến khi hết xà phòng.
- Vắt khô: Vắt bớt nước trên quần áo một cách nhẹ nhàng để tránh làm giãn hoặc nhăn vải.
- Phơi khô: Phơi quần áo ở nơi thoáng mát, nắng nhẹ, tránh ánh nắng trực tiếp có thể làm bạc màu vải.
- Làm sạch: Giúp loại bỏ bụi bẩn, vết bẩn, mồ hôi trên quần áo.
- Vệ sinh: Ngăn ngừa sự phát triển của vi khuẩn, vi rút, nấm mốc gây hại cho da và sức khỏe.
- Tăng độ bền: Giặt đúng cách giúp giữ form dáng và tăng độ bền cho quần áo.
- Tạo cảm giác thoải mái: Mang lại cảm giác sạch sẽ, thoải mái và tự tin khi mặc quần áo đã giặt.
Chắc hẳn ai khi học dưới mái trường cấp 1 thân yêu đều có cho mình những kỉ niệm đáng nhớ và em cũng như vậy. Kí ức tươi đẹp cùng người bạn thân Hải An luôn ghi dấu trong trái tim em.
Ngày hôm đó, cô giáo thông báo về việc nhà trường có kế hoạch tổ chức buổi dã ngoại để nâng cao khả năng thực hành và vận dụng kiến thức vào đời sống cho học sinh. Cả lớp ai cũng hân hoan, háo hức. Địa điểm mà chúng em đi đến là nông trại ở Ba Vì, Hà Nội. Em và Hải An đã cùng nhau lên rất nhiều ý tưởng cho chuyến đi ngày hôm đó. Trước hôm khởi hành, em xin phép bố mẹ sang nhà bạn ngủ để sáng mai đi sớm và được bố mẹ đồng ý. Tối hôm đó, em và bạn đi siêu thị mua đồ. Chúng em mua rất nhiều đồ ăn như bim bim, kẹo mút, kẹo dẻo, bánh mì, xúc xích, phô mai,... Thời gian mua sắm kết thúc vào lúc 9 giờ 30 phút. Chúng em thay quần áo, vệ sinh cá nhân rồi nhanh chóng lên giường ngủ. Bọn em kể cho nhau nghe mọi thứ, thậm chí cười khúc khích khiến bố mẹ phải nhắc nhở mấy lần. Sau một hồi trò chuyện, em và bạn dần đi vào giấc ngủ. Đúng 5 giờ sáng, tiếng chuông đồng hồ reo vang. Nhìn vẻ mặt ngái ngủ của nhau, chúng em đều bật cười sảng khoái. Cuối cùng, hai đứa có mặt ở trường lúc 6 giờ. Dưới sự hướng dẫn của cô chủ nhiệm, chúng em di chuyển lên xe và ngồi cạnh nhau. Bạn chỉ cho em rất nhiều điều thú vị qua ô cửa nhỏ. Vạn vật cứ thế vụt qua tầm mắt em. 9 giờ, đoàn xe đã có mặt ở nông trại. Chúng em cầm tay nhau đi thăm vườn và dạo quanh tất cả ngóc ngách. Tại đây, em và Hải An được học cách trồng cây, vắt sữa bò,... Chúng em được trở thành người nông dân thực thụ trong buổi học ngày hôm ấy. Đến cuối chuyến đi, em vấp phải hòn đá lớn khiến bản thân ngã sõng soài xuống nền đất. Quần áo dính bùn lấm lem, bẩn thỉu, mặt thì lỗ chỗ những vết đất, cát còn vương. Hải An thấy bộ dạng của em thì phá lên cười làm em giận bạn lắm! Nhưng ngay sau đó, bạn cố gắng giúp đỡ và lục tìm trong ba lô quần áo mới cho em mặc. Dưới sự giúp đỡ của bạn, em đã dần lấy lại được bình tĩnh và trở nên sạch sẽ, gọn gàng hơn. Chuyến đi ấy không chỉ đem lại cho em kĩ năng sống bổ ích mà còn là sợi dây gắn kết tình bạn của chúng em. Đối với em, Hải An luôn là người bạn tốt bụng và dễ thương nhất.
Em thấy mình cần làm những việc là :
-không vứt rác bừa bãi
-chồng nhiều cây