Bùi Thị Mộng Duyên

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Bùi Thị Mộng Duyên
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1:

Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài là tự sự

Câu 2:

Tình huống truyện: Thằng Bào (đứa trẻ ở đợ) bị ép buộc phải leo lên cây cao để bắt con chim vàng cho cậu chủ nhỏ; kết cục Bào bị ngã chấn thương nặng, con chim chết, nhưng chủ nhà chỉ quan tâm đến xác con chim chứ không hề đoái hoài đến tính mạng của Bào.

Câu 3:

- Ngôi kể: Ngôi thứ ba

- Tác dụng: Giúp người kể chuyện quan sát và miêu tả khách quan, bao quát toàn bộ sự việc và tâm lý các nhân vật; làm nổi bật sự đối lập giữa nỗi đau đớn của Bào và sự vô tâm của mẹ con chủ nhà.

Câu 4:

- Ý nghĩa của chi tiết:

+ Khắc họa rõ nét bản chất máu lạnh, coi rẻ mạng người của mẹ con chủ nhà (bà ta thò tay xuống chỉ để nhặt xác chim chứ không phải cứu đứa trẻ đang thoi thóp).

+ Hình ảnh "tay Bào với mãi nhưng cũng chẳng với được ai" biểu tượng cho sự cô độc, bế tắc và vô vọng của những đứa trẻ nghèo khổ, đi ở đợ trong xã hội cũ.

Câu 5:

-Nhận xét về nhân vật Bào: Là một đứa trẻ tội nghiệp, hiền lành, chịu thương chịu khó nhưng bị chà đạp, áp bức đến cùng cực. Bào vừa là nạn nhân của cái nghèo (nợ thóc), vừa là nạn nhân của sự độc ác, ích kỷ từ giai cấp chủ nô.

-Tình cảm của tác giả qua văn bản: xót thương, đồng cảm sâu sắc với số phận bất hạnh của những đứa trẻ nghèo

-Thái độ của tác giả: Đồng cảm, phê phán

\(\Delta_{r}H_{298}^0=\left\lbrack2.\Delta_{f}^{}H_{298}^0\left(CO_2^{}\right)+3.\Delta_{f}^{}H_{298}^0\left(H_2^{}O\right)\right\rbrack-\left\lbrack\Delta_{f}^{}H_{298}^0\left(C_2^{}H_6^{}\right)\right\rbrack\)

\(=\left\lbrack2.\left(-393,50\right)+3.\left(-285,84\right)\right\rbrack-\left(-84,70\right)\)

\(=-1559,82\left(\frac{kJ}{mol}\right)\)

\(\overline{v}\)= -\(\frac{\Delta C}{\Delta t}=-\frac{C_2^{}-C_1^{}}{4}=-\frac{0,10-0,22}{4}=0,03\) (M/s)

a. PTHH

2KMnO4 + 16HClđặc  \(\rarr\)2KCl + 2MnCl2 + 5Cl2 + 8H2

Chất khử: HCl

Chất oxi hóa: KMnO4 

Quá trình oxi hóa: 2Cl-\(\rarr\) Cl20 + 2e     |x5

Quá trình khử:       Mn+7  + 5e\(\rarr\)Mn+2  |x2

b. nNaI = 0,2 . 0,1 = 0,02

PTHH: 2NaI+Cl2 \(\rarr\) 2NaCl +I2

mol 0,02 --> 0,01

=> PTHH: 2KMnO4 + 16HClđặc \(\rarr\)2KCl + 2MnCl2 + 5Cl2 + 8H2

mol 0,004 <--- 0,01

mKMnO4=0,004 . 158 = 0,632(g)

Đặc tính của lò xo:

-Tính đàn hồi: Khả năng lấy lại hìn dạng và kích thước ban đầu của lò xo khi thôi tác dụng lực.

-Độ cứng(k): Khả năng chống lại sự biến dạng; giá trị k càng lớn, lò xo càng khó nén hoặc kéo.

-Độ biến dạng(\(\Delta\)l ): Sự chênh lệch giữa chiều dài khi bị kéo(nén) so với chiều dài tự nhiên của lò xo

-Giới hạn đàn hồi: Mức biến dạng tối đa mà khi lò xo vượt qua sẽ bị hỏng(không thể trở lại hình dạng và kích thước ban đầu)

- Gắn biển giới hạn tốc độ tại các khúc cua (đường cong)

+Tình huống: Xe ô tô hoặc xe máy vào cua với tốc độ cao dễ bị văng ra khỏi quỹ đạo vì không đủ lực hướng tâm.

+Giải pháp: Gắn biển báo tốc độ tối đa ở các khúc cua để tài xế giảm tốc → tránh trượt bánh hoặc lật xe.

- Sử dụng dây an toàn và thanh chặn cơ thể trong các trò chơi mạo hiểm có chuyển động tròn

+Tình huống: Khi người chơi chuyển động tròn (ví dụ: tàu lượn siêu tốc, đu quay), lực quán tính làm họ có xu hướng bị văng khỏi ghế.

+Giải pháp: Trang bị dây an toàn, thanh chắn an toàn để giữ cơ thể cố định, chống lại lực quán tính (vốn làm người rời khỏi quỹ đạo tròn) → đảm bảo an toàn trong chuyển động.

- Nghiêng mặt đường vào phía tâm cong

+Tình huống: Khi xe vào khúc cua, lực quán tính làm xe có xu hướng lao ra ngoài.

+Giải pháp: Thiết kế mặt đường nghiêng về phía trong khúc cua (nghiêng theo chiều cong) → tạo thành thành phần của phản lực pháp tuyến đóng vai trò là lực hướng tâm → giúp xe bám đường tốt hơn, giảm nguy cơ trượt hoặc lật.

a.Va chạm đàn hồi:

- Cách làm: Gắn quả cầu kim loại vào đầu hai xe. Cho xe A chuyển động đến va chạm với xe B đang đứng yên.

- Hiện tượng: Sau va chạm, hai xe tách rời nhau. Mỗi xe chuyển động với vận tốc riêng

b.Va chạm mềm:

- Cách làm: Gắn miếng nhựa đính vào đầu hai xe. Cho xe A chuyển động đến va chạm với xe B đang đứng yên.

- Hiện tượng: Sau va chạm, hai xe dính vào nhau và cùng chuyển động về phía trước với vận tốc bằng một nửa vận tốc ba đầu của xe A