Trương Quang Huy

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Trương Quang Huy
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Nguyễn Khuyến, hay còn gọi là Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến, ông được mệnh danh là nhà thơ của làng cảnh Việt. Thơ ông là những tấm gương phản ánh cuộc sống thường nhật vừa chân thật, vừa gần gũi, nhất là của người nông dân. Trong thời khắc giao thời, nửa thực dân, nửa phong kiến, khi mà triều đình nhà Nguyễn đã buông gươm xin hàng trước lưỡi kiếm xâm lược của Pháp, nền văn hoá dân tộc đang bị đồng hoá mà ông lại hoàn toàn bất lực trước thời cuộc rối ren, chẳng giúp được gì cho đời cho nước. Dẫu đã cáo quan về ở ẩn tại quê nhà nhưng cái “gánh nặng triều đình” từng mang thì sao nguôi được?, ông không ngần ngại cất lời tiếng cười giễu cợt chính mình, và bài thơ “Tự trào” ra đời từ chính nụ cười ấy:

“Cũng chẳng giàu mà cũng chẳng sang

Chẳng gầy chẳng béo, chỉ làng nhang

Cờ đương dở cuộc, không còn nước

Bạc chửa thâu canh đã chạy làng

Mở miệng nói ra gàn bát sách

Mềm môi chén mãi tít cung thang

Nghĩ mình lại ngán cho mình nhỉ

Thees cũng bia xanh cũng bảng vàng”

Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật với niêm, luật chặt chẽ mà vẫn thể hiện được hồn thơ phóng khoáng và phong cách sáng tạo của tác giả. Đề tài được khởi lên từ chính nỗi niềm day dứt của tác giả trước thời cuộc rối ren của đất nước. Nhan đề bài thơ chỉ gồm hai chữ nhưng hiện lên thẳng thắn như muốn phơi bày mọi ý tứ mà tác giả gửi gắm: thói hư, tật xấu, khiếm khuyết của bản thân .

“Cũng chẳng giàu mà cũng chẳng sang

Chẳng gầy chẳng béo, chỉ làng nhang”

Hai câu thơ như bức chân dung tự hoạ về bản thân của chính tác giả: “Chẳng giàu, chẳng sang, chẳng gầy, chẳng béo” – một con người bình thường đến không thể bình thường hơn. Điệp cấu trúc câu “chẳng... chẳng...” làm bật lên cái vẻ tầm thường ấy, ngỡ như không có gì: không tiền bạc, không danh phận. Từ tượng hình “làng nhàng” như một điểm sáng,gợi lên cái vóc dáng hơi gầy, biến câu thơ từ một lời giới thiệu thành một lời tự vấn sâu cay, ẩn trong đó là nỗi tự ti về chính mình, tự ti về cái ngoại hình mà ông cho rằng chẳng hơn ai.

Tiếng cười trào phúng ngày một rõ nét hơn trong hai câu thực:

“Cờ đương dở cuộc không còn nước

Bạc chửa thâu canh đã chạy làng”

Mượn hình ảnh bàn cờ, một trò chơi tiêu khiển đã quá đỗi thân thuộc trong xã hội thời đó, nhưng lạ thay, một ván cờ đương chơi dở nhưng lại bí bách, không conf nước đi, chẳng sao xoay chuyển. Thủ pháp đối giữa “đương dở cuộc” và “không còn nước” lại làm cho câu thơ càng mang nặng cảm giác bế tắc. Qua hình ảnh ấy, Nguyễn Khuyến đã kín đáo bộc lộ nỗi đau của một trí thức nhìn thấu vận nước suy vong, ý thức rõ trách nhiệm của mình nhưng đành bất lực trước thực tại. Một bàn cờ nhỏ hẹp bỗng mở ra một thế cờ lớn của dân tộc thời bấy giờ, nơi “ quân vua ” thì nhu nhược, hèn hạ, mà những lí tưởng nho gia chẳng còn đất dụng võ, để lại nỗi cay đắng không nguôi trong lòng thi nhân.

“Bạc chửa thâu canh đã chạy làng”

Câu thơ vẽ lên trước mặt người đọc bức tranh về một ván bài còn chửa thâu canh nhưng người trong cuộc đã chạy hết. Bằng bút pháp tài hoa, Nguyễn Khuyến đã ẩn dụ bức tranh vào chính cuộc đời mình. Giữa thời cuộc rối ren, tầng lớp cầm quyền thì thối nát mà ông lại cáo quan, lui về ở ẩn, xa lánh bụi trần. Dưới lăng kính nhìn đời của một kẻ đã đi trọn con đường khoa bảng mà luôn giữ sự khiêm nhường, Nguyễn Khuyến tự giễu mình như một “kẻ chạy làng”, ích kỷ, vô tâm với dân , với nước, dẫu có học nhưng lại an phận với cuộc đời bình thản nơi thôn quê. Tiếng cười tự trào bật lên tuy nhẹ nhàng nhưng thấm thía một sự day dứt âm ỉ của nho sỹ yêu nước trước vận mệnh quốc gia.

“Mở miệng nói ra gàn bát sách

Mềm môi chén mãi tít cung thang”

Hai câu luận đặt cạnh nhau như muốn phô ra mọi sự buồn chán mà Nguyễn Khuyến gửi gắm trong con chữ. Từ “bát sách” vốn tượng trưng cho hệ tư tưởng Nho học từng được tôn vinh, ấy vậy mà, trớ trêu thay, dưới cái xã hội đảo điên, nửa thực dân, nửa phong kiến, những lời nói cất lên từ kinh sách ấy lại hoá “gàn” dở, quá đỗi lỗi thời, chẳng còn đủ sức để níu kéo điều gì. Những kẻ sỹ như ông bỗng trở nên lạc lõng, hoàn toàn bất lực, đành tìm sự giải thoát tạm bợ trong men say đến “mềm môi”, “tít cung thang” như muốn quên đi mọi sự đời. Qua đó, ông như vừa châm biếm mình như vừa châm biếm cả xã hội Nho học xưa, chỉ toàn những kẻ sống giữa sách vở viển vông, nói nhiều mà làm chẳng bao nhiêu, đứng ngoài thực tế, không góp nổi tiếng nói nào trước vận nước điêu linh. Hai câu luận vì thế mà hài hước vừa ngậm ngùi, tạo nên cái giọng điệu tự trào rất riêng của ông, vừa nói mình , vừa nói đời.

“Nghĩ mình lại ngán cho mình nhỉ

Thế cũng bia xanh cũng bảng vàng”

Hai câu thơ cất lên như một lời tự vấn, khi Nguyễn Khuyến tự đặt mình vào vị trí người nói và cũng là người nghe, đối tượng bị phán xét. Cách xưng “mình” khiến giọng điệu dần trở nên thân mật hơn, như thể tác giả đang tự trò chuyện với chính bản thân ông. Từ cảm thán “nhỉ” được tác giả khéo léo lồng ghép ở cuối câu, biến câu thơ từ một lời trách than thành một câu hỏi tu từ đầy hóm hỉnh, nửa đùa nửa trách: ”nghĩ lại đời mình, sao lại ngán ngẩm đến thế nhỉ?”

Vậy nhưng, điểm sáng giá nhất trong hai câu thơ lại được tác giả gói gọn trong tiếng “Thế”. Chỉ một từ “Thế” mà vang lên như một tiếng thở dài, vừa mang sắc thái bất ngờ, vừa chứa chan cái thái độ khinh miệt chính mình của tác giả. Bia xanh, bảng vàng vốn là biểu tượng của công danh, hiển đạt, nhưng đặt trong giọng thơ tự giễu của Nguyeenx Khuyến, tất cả trở nên trống rỗng, vô dụng. Sự bất ngờ không nằm ở việc nhà thơ không biết mình có bia xanh bảng vàng, mà là bởi, dù rằng có công danh, học vấn, ông vẫn bất lực trước thời cuộc, để rồi phải sống một cuộc đời lặng lẽ, tầm thường.

Có thể nói “Tự trào” của Nguyeenx Khuyến vừa là kết tinh của những giá trị nghệ thuật trào phúng đặc sắc của thơ Nôm Đường luật, vừa in đậm dấu ấn sáng tạo của tác giả. Nhà thơ sử dụng một cách linh hoạt và điêu luyện các yếu tố đặc trưng thể loại như sự hoạ phối thanh điệu, kết cấu chặt chẽ, tính cô đọng, hàm súc,... đồng thời baif thơ đã có những cách tân độc đáo ở nhiều bình diện. Bài thơ sử dụng nhiều thủ pháp tu từ đặc sắc như: phép đối “dở cuộc” – “không coi nước” và “Bạc chửa thâu canh” – “đã chạy làng” giúp tạo sự đăng đối và tính nhạc cho câu thơ, cùng với phép ẩn dụ khéo léo mà tinh tế trong hai câu thực, lấy hình ảnh đời thường để tự phê phán mình, gợi nét dân dã cho tác phẩm; Điệp cấu trúc câu “chẳng... chẳng...” và nhiều từ ngữ đắt giá như “Thế”, từ cảm thán “nhỉ” và từ tượng hình “làng nhang”. Ngôn ngữ thơ hóm hỉnh, sâu sắc, giọng điệu vừa trào phúng vừa trữ tình.

Bài thơ “Tự trào” đã khẳng định vị trí quan trọng của Nguyễn Khuyến trong thơ ca Việt, là tác phẩm tiêu biểu cho giá trị tư tưởng và nghệ thuật của thơ ông. Lựa chọn đề tài từ cuộc đời thường nhưng tác giả đã đặt ra vấn đề có ý nghĩa lớn trong xã hội. Vì vậy, bài thơ vẫn khơi gợi ở người đọc hôm nay sự đồng cảm với hoàn cảnh éo le của tác giả, có tài mà lại bất lực trước thời khắc giao thời.


Có ý kiến cho rằng “tiếng cười cũng có sức mạnh của một thứ vũ khí chống lại cái chưa hay , chưa đẹp“ . Thật vậy , tiếng cười không chỉ là niềm vui mà còn là một vũ khí tinh thần mang sức mạnh diệu kì . Một nụ cười chân thành có thể hoà giải căng thẳng của ai đó , làm mềm đi những định kiến và đánh thức phần nhân hậu nhất trong tâm hồn mỗi người . Trước một xã hội vô cảm, nóng nảy , tiếng cười đúng lúc sẽ trở thành lời nhắc nhở nhẹ nhàng, bao dung , khuyên ta biết mở lòng mình , biết hạnh phúc khi thấy một bông hoa chớm nở trong giông tố . Nó không công kích , không áp đặt , mà cảm hoá bằng sự ấm áp và nhân văn . Bởi vậy mới nói ,biết cười , và lan toả tiếng cười ấy đi muôn nơi ,thì cũng chính là cách ta làm giàu thêm giá trị tâm hồn mình, góp phần xây lên một xã hội , nơi cái xấu chẳng còn.

từ “thiếu phụ” trong câu văn mang sắc thái trang trọng , lịch sự , dùng để chỉ người phụ nữ đã có gia đình, còn trẻ

việc dùng từ “thiếu phụ” trong câu văn làm gợi lên sự chín chắn , dịu dàng , phù hợp với văn bản mang tính nhân văn

topic 3 : I often do many things to help my family. I usually help my parents with housework such as cleaning the house, washing the dishes, and taking out the trash. In the evening, I help my younger brother with his homework. On weekends, I sometimes go to the market with my mother. Helping my family makes me feel happy and more responsible.


1. The Muong earn a living by farming and raising animals.

2. They are in the habit of exercising after work.


1. If you don’t drink more water , you will get more ance.

2. My sister wants to see the terraced fields , so she is going to Sa Pa.

3. Unless he spends time on his phone , he will complete his word.