Nguyễn Đình Hải Đăng
Giới thiệu về bản thân
Câu 1: Bài thơ “Mùa về” của Phạm Xuân Am đã đem đến cho em nhiều cảm xúc đẹp và ấm áp về quê hương lao động. Bức tranh ngày mùa hiện lên thật nhộn nhịp, rộn ràng với tiếng cối giã gạo, với những cánh đồng vàng ươm lúa chín và những người nông dân tất bật gặt hái. Qua từng câu thơ, em cảm nhận rõ mùi rơm rạ, vị mồ hôi mặn và cả niềm vui dâng đầy khi mùa gặt bội thu. Em đặc biệt ấn tượng với hình ảnh người nông dân “đôi vai gánh cả mảng trời bão giông” – đó là những con người lam lũ mà cao cả, thầm lặng mà mạnh mẽ. Họ không chỉ làm ra hạt gạo nuôi sống bao người mà còn gieo vào lòng em lòng biết ơn và trân trọng lao động. Bài thơ giúp em hiểu rằng đằng sau bát cơm trắng mỗi ngày là biết bao nhọc nhằn, mồ hôi và hy vọng. “Mùa về” không chỉ là bức tranh ngày mùa mà còn là khúc hát ngợi ca người nông dân và quê hương đất nước giàu truyền thống lao động cần cù.
Câu 2:
Tết Trung thu ở quê em luôn là khoảng thời gian em mong đợi nhất trong năm. Ngay từ chiều, khắp các con đường làng đã trở nên rộn ràng hơn thường ngày. Trẻ con ríu rít tập trung ngoài sân đình, tay cầm đèn ông sao, đèn cá chép, đèn lồng nhiều màu sắc. Những chiếc đèn sáng rực, lấp lánh như những ngôi sao nhỏ giữa đêm thu dịu mát. Trên cao, trăng tròn vành vạnh treo lơ lửng, vằng vặc soi sáng cả xóm làng.
Âm thanh trống múa lân vang dội làm không khí thêm tưng bừng. Từng đoàn lân nhảy múa rộn ràng, lúc khoan thai, lúc nhanh nhẹn, theo nhịp trống rộn rã khiến ai cũng thích thú. Người lớn bày cỗ trung thu với bánh nướng, bánh dẻo, chuối, bưởi, na… đầy ắp mâm. Trẻ em quây quần phá cỗ, vừa ăn vừa cười nói rộn ràng. Những lời chúc, những ánh mắt vui tươi như làm đêm Trung thu trở nên ấm cúng hơn bao giờ hết.
Tết Trung thu ở quê em không chỉ là ngày hội dành cho thiếu nhi mà còn là dịp để mọi người sum vầy, gắn kết. Mỗi đêm Trung thu đi qua đều để lại trong em niềm vui, sự háo hức và cả tình yêu thương sâu nặng đối với quê hương của mình.
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính: biểu cảm (kết hợp miêu tả).
Câu 2.
Ba hoạt động lao động của người nông dân trong ngày mùa được nhắc đến:
- Gặt lúa, hái lúa ngoài đồng (“liềm hái ra đồng”).
- Sàng rơm, sảy thóc.
- Nện lúa, trục lăn, phơi – xay – giã thóc.
Câu 3. Người nông dân vất vả, lam lũ nhưng kiên cường, gắn bó với ruộng đồng. Họ gánh vác công việc nặng nhọc, chống chọi thiên tai bão giông, góp phần nuôi sống gia đình và quê hương.
Câu 4.
Biện pháp tu từ: so sánh – ẩn dụ chuyển đổi cảm giác và điệp cấu trúc “thêm… thêm…”.
- “Vàng hạt lúa”, “xanh giấc nồng” là hình ảnh ẩn dụ, gợi sự no đủ, bình yên, giấc ngủ yên lành.
- Tác dụng: làm nổi bật niềm vui, sự đủ đầy khi vào mùa gặt; diễn tả sinh động không khí ngày mùa và niềm hạnh phúc của người lao động.
Câu 5.
Từ tinh thần “Nhọc nhằn không mỏi, mỏi mong mùa về”, em học được bài học về ý chí và sự kiên trì trong lao động và học tập. Dù công việc vất vả, người nông dân vẫn không nản lòng vì tin vào thành quả phía trước. Bản thân em cần biết nỗ lực bền bỉ, không bỏ cuộc, trân trọng giá trị lao động và những gì mình đang có. Nhờ kiên trì, thành quả đạt được sẽ trở nên ý nghĩa hơn.