Trần Thảo Vy
Giới thiệu về bản thân

câu 1:
trong xã hội hiện đại, đã có câu nói nổi tiếng rằng “đi theo số đông không phải lúc nào cũng là lựa chọn đúng”, và điều ấy cho thấy tính cấp thiết của việc nhận diện hiện tượng tâm lí đám đông. đây là tình trạng giới trẻ hành động theo số đông mà thiếu suy nghĩ độc lập, dẫn đến nhiều hậu quả đáng lo ngại. tâm lí đám đông được hiểu là việc cá nhân bị lôi cuốn bởi hành động, suy nghĩ của tập thể và đánh mất sự tỉnh táo của riêng mình. thực trạng này xuất hiện rộng rãi ở môi trường học đường, trên mạng xã hội, các sự kiện công cộng, chủ yếu ở lứa tuổi học sinh sinh viên vốn có tâm lý chưa vững. nguyên nhân khách quan là do tác động của mạng xã hội, áp lực hòa nhập, sự dẫn dắt của người nổi tiếng; nguyên nhân chủ quan là do giới trẻ thiếu bản lĩnh, thiếu khả năng phản biện và dễ bị kích động. từ đó, nhiều hậu quả đáng tiếc xảy ra: a dua theo trend độc hại, hùa theo sự bạo lực mạng, cổ vũ các hành vi sai trái, gây chia rẽ cộng đồng. Ví dụ thực tế: năm 2023, hàng trăm bạn trẻ đổ xô livestream theo một vụ việc bạo lực học đường chỉ để “bắt trend”, khiến nạn nhân bị tổn thương nặng nề cả về thể chất lẫn tinh thần. Để đẩy lùi tình trạng này, cần rèn luyện tư duy độc lập, nâng cao nhận thức cá nhân, giáo dục kỹ năng sống và hạn chế lệ thuộc vào sức ép đám đông. tâm lí đám đông mang lại nhiều tác hại cho sự phát triển nhân cách của giới trẻ. mỗi người cần học cách suy nghĩ độc lập, tỉnh táo lựa chọn và chịu trách nhiệm với hành vi của chính mình bài học mà tôi luôn tự nhắc nhở bản thân.
câu 2:
M.L.Kalnnie từng nói " văn học làm cho con người thêm phong phú, tạo khả năng cho con người lớn lên, hiểu được con người nhiều hơn". thật vây, qua văn học ta không chỉ cảm nhận được vẻ đẹp của ngôn từ mà còn thấu hiểu những nỗi đau, khát vọng và tình thương của con người trong cuỗ sống. viết về cảm xúc ấy nhà văn Nguyễn Ngọc Tư một cây bút giàu chất Nam Bộ là tác giả của những truyện ngắn nhẹ nhàng nhưng sâu lắng về tình người. Khi đọc hai đoạn trích Ông ngoại và Giàn bầu trước ngõ, ta bắt gặp vẻ đẹp rất đời thường của tình thân tình ông cháu và tình bà cháu. việc so sánh hai đoạn trích giúp ta cảm nhận rõ hơn nét độc đáo của từng câu chuyện, đồng thời nhận ra điểm chung trong phong cách của Nguyễn Ngọc Tư.
Nguyễn Ngọc Tư sinh năm 1976 tại Cà Mau. Văn của chị mang phong vị Nam Bộ, dung dị nhưng đầy cảm xúc. Ông ngoại kể về quá trình Dung một cô bé bướng bỉnh dần thấu hiểu tình thương thầm lặng của ông ngoại. Giàn bầu trước ngõ lại xoay quanh hình ảnh bà nội mang nặng nỗi nhớ quê trong một gia đình bận rộn nơi phố thị. Dù mỗi tác phẩm có không gian và câu chuyện riêng, cả hai đều hướng đến tình cảm gia đình – một chủ đề quen thuộc nhưng đầy sức gợi. Giữa hai đoạn trích tồn tại nhiều điểm tương đồng. Về nội dung, cả hai đều nói về sự gắn bó giữa người già và con cháu; đều gửi gắm thông điệp trân trọng những điều bình dị quanh ta. Trong Ông ngoại, đó là tiếng ho của ông, là dáng ông cặm cụi tưới cây; còn trong Giàn bầu trước ngõ, đó là hình ảnh bà nội tỉ mẩn làm bánh quê, chăm chút cho giàn bầu như một phần quê hương trong tim. Về nghệ thuật, Nguyễn Ngọc Tư sử dụng ngôi kể thứ nhất, giọng văn nhẹ nhàng, giàu cảm xúc. Cả hai đoạn đều được xây dựng bằng những chi tiết đời thường, gần gũi khiến cảm xúc người đọc trở nên chân thực. Tuy nhiên, hai đoạn trích cũng mang những nét khác biệt rõ rệt. Về nội dung, Ông ngoại tập trung vào sự trưởng thành của Dung từ khó chịu đến biết yêu thương ông nên câu chuyện mang sắc thái tươi sáng. Giàn bầu trước ngõ lại thấm đẫm nỗi buồn, xoay quanh sự cô đơn của bà nội và nỗi nhớ quê hương da diết. Cốt truyện ở đoạn trích thứ nhất phát triển theo sự thay đổi của nhân vật; còn đoạn trích thứ hai xây dựng cảm xúc qua không gian và hình ảnh biểu tượng giàn bầu. Về nghệ thuật, Ông ngoại giàu đối thoại, thể hiện rõ sự khác biệt giữa hai thế hệ; Giàn bầu trước ngõ lại giàu chất miêu tả, nghiêng về nội tâm và hoài niệm. Những khác biệt này xuất phát từ đặc trưng vùng miền, từ mạch cảm xúc của mỗi câu chuyện và hoàn cảnh sáng tác khác nhau. Nhìn chung, cả hai đoạn trích đều thể hiện rõ phong cách Nguyễn Ngọc Tư: nhẹ nhàng, tinh tế, thấm đượm tình người. Ông ngoại khiến ta mỉm cười trước sự thay đổi của một cô bé; Giàn bầu trước ngõ lại khiến ta lặng đi trước nỗi buồn của người già xa quê. Mỗi đoạn mang một vẻ đẹp riêng, góp phần tạo nên sự phong phú cho văn chương Nam Bộ. hai đoạn trích giúp ta hiểu rằng tình thân luôn hiện diện trong những điều bình dị nhất. Đọc xong, tôi thấy mình cần yêu thương, quan tâm hơn đến những người thân trong gia đình, bởi đôi khi, chỉ một chút thấu hiểu cũng đủ làm trái tim người già ấm lại giữa dòng đời bận rộn.
câu 1:
phương thức biểu đạt chính: nghị luận
câu 2:
"hơn ai hết, ta là người hiểu rõ nhất sự đớn đau của những vết thương mà mình từng nếm trải, thấu tỏ nhất cảm giác sợ hãi bủa vây trong lòng."
câu 3:
Tác dụng của việc sử dụng ngạn ngữ: -Tăng tính thuyết phục cho lập luận. -Tạo điểm tựa lí lẽ rõ ràng, gần gũi, dễ nhớ. -Mở vấn đề một cách tự nhiên, gợi người đọc suy ngẫm ngay từ đầu.
câu 4:
quan điểm “qua thái độ của ta với bản thân, ta đã lặng lẽ dẫn dắt họ cách đối xử với ta” có nghĩa là: -Cách ta nhìn nhận, trân trọng hay coi thường chính mình sẽ tạo ra “tín hiệu” để người khác hiểu ta đáng được đối xử thế nào.nếu ta tự tin, biết yêu thương, chăm sóc bản thân, người khác sẽ nhận thấy giá trị đó và đối xử với ta bằng sự tôn trọng. -ngược lại, nếu ta tự hạ thấp, bỏ mặc mình, người khác dễ xem nhẹ, thậm chí đối xử tệ bạc bởi họ cho rằng ta chấp nhận điều đó. ->Vì vậy, thái độ với bản thân chính là một dạng “chuẩn mực ngầm” mà ta gửi đến thế giới về cách ta muốn được đối xử.
câu 5:
đồng tình với ý kiến trên vì:
-tự yêu thương bản thân giúp ta chủ động bảo vệ cảm xúc và tinh thần của mình. -không phải lúc nào ta cũng nhận được sự quan tâm từ người khác, nên tự chăm sóc mình là cần thiết. -khi mạnh mẽ và bình an từ bên trong, ta mới có khả năng sống tích cực và yêu thương người khác đúng cách.
câu 1:
Hình tượng đất nước trong đoạn thơ hiện lên vừa bình dị, gần gũi, vừa mang vẻ đẹp lớn lao của một dân tộc anh hùng. Đất nước được nhìn từ những điều quen thuộc của đời sống: những con đường, nhịp cầu, căn nhà mới dựng, những con người cần cù lao động. Qua đó, đất nước hiện ra như một thực thể sống, không ngừng hồi sinh sau chiến tranh, mang trong mình sức sống mạnh mẽ và niềm tin bền bỉ. Nhưng đất nước ấy cũng là biểu tượng của những hi sinh lớn lao: trẻ em sinh ra trong bom đạn, những cô gái đứng lên từ công sự, những tiếng ru, chuyến phà, đêm không đèn... Tất cả làm nên ký ức không thể phai mờ của dân tộc. Đất nước còn là sự tiếp nối giữa quá khứ và hiện tại, giữa thế hệ chiến tranh và thế hệ hòa bình. Qua hình tượng đất nước, nhà thơ ca ngợi vẻ đẹp kiên cường, bất khuất của dân tộc và gửi gắm niềm tự hào, niềm tin vào tương lai tươi sáng. Đó chính là ý nghĩa sâu sắc mà đoạn thơ mang lại cho người đọc.
câu 2:
Lịch sử luôn có vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách và bồi đắp lòng yêu nước cho mỗi con người. Tuy nhiên, điều khiến chúng ta xúc động, ám ảnh và ghi nhớ lâu nhất không phải là những con số khô khan hay những sự kiện được liệt kê trong sách giáo khoa, mà chính là những con người đã sống, đã chiến đấu và đã hi sinh để tạo nên lịch sử ấy. Câu nói “Chúng ta không xúc động trước những bài giảng lịch sử. Chúng ta xúc động trước những người làm nên lịch sử” nhắc nhở chúng ta về giá trị nhân văn sâu sắc nằm trong mỗi trang sử. Một bài giảng lịch sử có thể cung cấp cho chúng ta kiến thức, nhưng chỉ khi được soi chiếu qua câu chuyện cuộc đời của những con người cụ thể thì lịch sử mới thực sự “sống”. Những chiến sĩ Điện Biên Phủ đã ngủ trong hầm tối, ăn cơm nắm với muối vừng; những cô gái thanh niên xung phong Trường Sơn chịu mưa bom bão đạn; những bà mẹ Việt Nam anh hùng tiễn con ra trận trong nước mắt… Chính những số phận như thế mới khơi dậy trong ta sự xúc động và niềm kính trọng. Con người làm nên lịch sử bằng máu, nước mắt, bằng lòng trung thành và tình yêu đất nước. Bởi vậy, lịch sử không chỉ là bài học, mà là cảm hứng sống, là sức mạnh tinh thần của mỗi thế hệ. Ngày nay, khi đất nước hòa bình, việc hiểu lịch sử càng cần thiết. Nhưng để lịch sử không xa rời thế hệ trẻ, chúng ta cần kể lại lịch sử bằng những câu chuyện chân thật về những con người bình dị mà phi thường. Nhìn vào những tấm gương như bác sĩ Đặng Thùy Trâm, anh Nguyễn Văn Trỗi, chị Võ Thị Sáu…, ta hiểu hơn giá trị của độc lập, tự do. Từ đó, mỗi học sinh sẽ biết sống có trách nhiệm hơn, biết trân trọng hiện tại và tiếp nối truyền thống của cha ông. Như vậy, câu nói trên khẳng định rằng lịch sử chỉ thật sự có sức lay động khi gắn với con người. Hiểu con người làm nên lịch sử giúp chúng ta hiểu sâu hơn về giá trị của quá khứ và biết sống đẹp hơn trong hiện tại. Đó cũng là cách để mỗi người trẻ hôm nay góp phần viết tiếp những trang sử mới cho quê hương, đất nước.
câu 1:
câu 2:
Nhân vật trữ tình thể hiện: -Niềm tự hào sâu sắc về truyền thống kiên cường, bất khuất của nhân dân Việt Nam. -Sự xúc động, trân trọng trước những hi sinh to lớn của dân tộc trong chiến tranh. -Niềm tin yêu, lạc quan vào cuộc sống hoà bình đang hồi sinh từng ngày. -Một tình cảm thiết tha với đất nước, gắn bó với quá khứ và hướng tới tương lai.
câu 3:
-biện pháp tu từ: đối lập - tương phản " lớp một"-" triệu tấn bom rơi"
-tác dụng:
+ nội dung: làm nổi bật sức sống mãnh liệt và sự trưởng thành kỳ diệu của con người Việt Nam giữa bom đạn chiến tranh.
+ nghệ thuật: làm cho tăng sức gợi hình gợi cảm, tăng tính nhạc điệu, làm giàu giá trị biểu cảm cho sự diễn đạt.
câu 4:
-Vị ngọt” trong câu thơ là vị ngọt của hòa bình, độc lập và niềm vui chiến thẳng. Đó cũng là vị ngọt của cuộc sống mới hồi sinh sau chiến tranh.
-Vị ngọt ấy có được từ biết bao hi sinh, mất mát của các thế hệ trong kháng chiến. Nó bắt nguồn từ thành quả Cách mạng Tháng Tám và truyền thống bất khuất của dân tộc.
câu 5:
Đoạn thơ gợi cho chúng ta suy nghĩ sâu về ý nghĩa của lòng yêu nước. Lòng yêu nu không chỉ thể hiện trong chiến đấu mà còn trong từng hành động bình dị của mối con người. Nhờ tình yêu nước, dân tộc ta đã có sức mạnh vượt qua bom đạn, hi sinh để bảo vệ độc lập. Trong thời bình, lòng yêu nước được thể hiện qua việc sống có trách nhiệm, chăm học, chăm làm và góp phần xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp. Yêu nước còn là biết trân trọng quá khứ, biết ơn những thế hệ đi trước và tiếp nổi truyền thống ấy băng nỗ lực hôm nay. Vì vậy, lòng yêu nước chính là nguồn sức mạnh bền bỉ giúp dân tộc ta vượt qua mọi thử thách và không ngừng vươn lên.