Phạm Nguyễn Quang Huy
Giới thiệu về bản thân
Câu 1. Bài thơ “Than đạo học” được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật.
Câu 2.
Đề tài của bài thơ là thực trạng nền Nho học và những người theo đạo học trong xã hội đương thời, qua đó thể hiện thái độ châm biếm, mỉa mai của tác giả.
Câu 3.
Tác giả cho rằng “Đạo học ngày nay đã chán rồi” vì nền Nho học lúc bấy giờ đã suy thoái, mất đi vị thế và ý nghĩa vốn có. Người đi học thì ít, người bỏ học thì nhiều; những người còn theo đuổi việc học cũng trở nên rụt rè, nhếch nhác, thiếu thực chất. Qua đó, tác giả thể hiện sự chán nản, đau xót trước sự suy tàn của Nho học.
Câu 4.
Tác giả sử dụng các từ láy như “lim dim”, “nhấp nhòm”, “rụt rè”, “liều lĩnh”. Những từ láy này có giá trị gợi hình, gợi cảm, giúp khắc họa sinh động, cụ thể hình ảnh những người theo đạo học. Đồng thời, chúng tạo nên giọng điệu hài hước, châm biếm, mỉa mai, làm nổi bật sự sa sút, đáng buồn của nền Nho học lúc bấy giờ.
Câu 5.
Bài thơ châm biếm, phê phán sự suy thoái của nền Nho học và những người theo đạo học trong xã hội đương thời. Qua đó, tác giả thể hiện nỗi chán chường, xót xa trước cảnh đạo học sa sút, đồng thời cho thấy thái độ mỉa mai, bất bình trước thực trạng xã hội.
Câu 1.
Bài thơ “Than đạo học” được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật.
Câu 2.
Đề tài của bài thơ là thực trạng nền Nho học và những người theo đạo học trong xã hội đương thời, qua đó thể hiện thái độ châm biếm, mỉa mai của tác giả.
Câu 3.
Tác giả cho rằng “Đạo học ngày nay đã chán rồi” vì nền Nho học lúc bấy giờ đã suy thoái, mất đi vị thế và ý nghĩa vốn có. Người đi học thì ít, người bỏ học thì nhiều; những người còn theo đuổi việc học cũng trở nên rụt rè, nhếch nhác, thiếu thực chất. Qua đó, tác giả thể hiện sự chán nản, đau xót trước sự suy tàn của Nho học.
Câu 4.
Tác giả sử dụng các từ láy như “lim dim”, “nhấp nhòm”, “rụt rè”, “liều lĩnh”. Những từ láy này có giá trị gợi hình, gợi cảm, giúp khắc họa sinh động, cụ thể hình ảnh những người theo đạo học. Đồng thời, chúng tạo nên giọng điệu hài hước, châm biếm, mỉa mai, làm nổi bật sự sa sút, đáng buồn của nền Nho học lúc bấy giờ.
Câu 5.
Bài thơ châm biếm, phê phán sự suy thoái của nền Nho học và những người theo đạo học trong xã hội đương thời. Qua đó, tác giả thể hiện nỗi chán chường, xót xa trước cảnh đạo học sa sút, đồng thời cho thấy thái độ mỉa mai, bất bình trước thực trạng xã hội.
Câu 1:
Bài thơ Than đạo học của Tú Xương đã thể hiện sâu sắc sự suy thoái của nền Nho học trong xã hội đương thời. Ngay từ câu thơ mở đầu, tác giả đã bộc lộ sự chán ngán: “Đạo học ngày nay đã chán rồi”. Hình ảnh “mười người đi học, chín người thôi” cho thấy việc học ngày càng bị xem nhẹ. Không chỉ vậy, những người còn theo đuổi đạo học cũng được khắc họa bằng những hình ảnh vừa hài hước vừa đáng buồn: cô hàng bán sách thì “lim dim ngủ”, thầy khóa thì “nhấp nhòm ngồi”, sĩ tử thì “rụt rè”, văn trường lại “liều lĩnh”. Qua đó, Tú Xương vừa phê phán thực trạng Nho học sa sút, vừa thể hiện nỗi xót xa trước sự thay đổi của thời cuộc. Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể thất ngôn bát cú Đường luật, ngôn ngữ gần gũi, giàu tính khẩu ngữ và đặc biệt là các từ láy như “lim dim”, “nhấp nhòm”, “rụt rè”, tạo nên giọng điệu châm biếm, hài hước mà sâu cay. Qua bài thơ, tài năng trào phúng và tấm lòng của Tú Xương được thể hiện rõ nét.
Câu 2:
Học tập là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của mỗi học sinh. Kiến thức không chỉ giúp con người mở rộng hiểu biết mà còn là hành trang để bước vào tương lai. Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay, bên cạnh những học sinh có ý thức học tập nghiêm túc vẫn còn một bộ phận học sinh chưa nhận thức đúng vai trò của việc học. Vì vậy, ý thức học tập là vấn đề rất cần được quan tâm.
Ý thức học tập có thể hiểu là thái độ tự giác, nghiêm túc và có trách nhiệm của học sinh đối với việc học. Người có ý thức học tập sẽ chủ động chuẩn bị bài, chú ý nghe giảng, hoàn thành nhiệm vụ được giao và không ngừng tìm tòi, bổ sung kiến thức. Họ không học chỉ vì sợ điểm kém hay bị cha mẹ, thầy cô nhắc nhở mà hiểu rằng học tập trước hết là vì tương lai của chính mình.
Trong thực tế, nhiều học sinh hiện nay có tinh thần học tập đáng khen. Các bạn biết đặt mục tiêu, xây dựng kế hoạch học tập và cố gắng khắc phục những điểm yếu của bản thân. Có những bạn dù hoàn cảnh khó khăn vẫn luôn nỗ lực vươn lên, đạt thành tích tốt trong học tập. Đó là những tấm gương cho thấy khi có quyết tâm và ý thức, mỗi người đều có thể tiến bộ.
Tuy nhiên, vẫn còn một số học sinh chưa có ý thức học tập tốt. Một số bạn lười học, thường xuyên trì hoãn việc học, chỉ học khi sắp kiểm tra hoặc thi cử. Có bạn dành quá nhiều thời gian cho điện thoại, trò chơi và mạng xã hội mà quên mất nhiệm vụ của mình. Một số khác lại có tâm lý học đối phó, học thuộc lòng một cách máy móc để lấy điểm nhưng không thực sự hiểu bài. Những biểu hiện ấy có thể khiến học sinh mất dần kiến thức, hình thành thói quen thiếu trách nhiệm và gặp khó khăn trong tương lai.
Nguyên nhân của tình trạng này đến từ nhiều phía. Trước hết là do bản thân một số học sinh chưa xác định được mục tiêu và động lực học tập. Bên cạnh đó, sự hấp dẫn của các hình thức giải trí trên mạng cũng dễ khiến học sinh mất tập trung. Ngoài ra, phương pháp học chưa phù hợp hoặc áp lực từ gia đình, nhà trường đôi khi cũng khiến việc học trở thành gánh nặng thay vì niềm vui khám phá tri thức.
Để nâng cao ý thức học tập, trước hết mỗi học sinh cần tự xác định mục tiêu cho bản thân và hiểu rằng kết quả học tập phụ thuộc rất lớn vào sự cố gắng của chính mình. Học sinh nên lập thời gian biểu phù hợp, chủ động làm bài, chuẩn bị bài trước khi đến lớp và biết sử dụng điện thoại, mạng xã hội một cách hợp lí. Khi gặp môn học khó, thay vì bỏ cuộc, chúng ta nên tìm cách hỏi thầy cô, bạn bè hoặc tự tìm hiểu để khắc phục. Gia đình và nhà trường cũng cần động viên, hướng dẫn và tạo môi trường học tập tích cực cho học sinh.
Là học sinh, mỗi chúng ta cần hiểu rằng học tập không phải là việc làm trong ngày một ngày hai mà là cả một quá trình lâu dài. Điểm số quan trọng nhưng điều quan trọng hơn là kiến thức, kỹ năng và sự trưởng thành mà chúng ta có được sau quá trình học tập. Có ý thức học tập hôm nay chính là đang chuẩn bị cho tương lai của mình ngày mai. Vì vậy, mỗi học sinh hãy chủ động, tự giác và nghiêm túc với việc học để không phải nuối tiếc về những năm tháng ngồi trên ghế nhà trường.
Câu 1.
• Thuyết minh (cung cấp kiến thức khoa học về hiện tượng thiên văn).
Câu 2.
• Sự kiện bùng nổ của hệ sao T Coronae Borealis (biệt danh "Blaze Star" - Ngôi sao Rực cháy) và cách quan sát nó trên bầu trời.
Câu 3.
• Cách trình bày: Trình bày theo trình tự thời gian (từ năm 1866 đến 1946 và hiện tại) kết hợp với số liệu cụ thể.
• Hiệu quả: Giúp người đọc dễ dàng theo dõi lịch sử và chu kỳ hoạt động (khoảng 80 năm/lần) của ngôi sao.
• Tăng tính xác thực, khoa học và tạo sự tin tưởng cho thông tin về dự báo vụ nổ sắp tới.
Câu 4.
• Nội dung: Giới thiệu về cấu tạo hệ sao đôi (sao lùn trắng và sao khổng lồ đỏ), cơ chế gây ra vụ nổ nova và dự báo thời điểm, vị trí xuất hiện của T CrB trên bầu trời.
• Mục đích: Cung cấp kiến thức và hướng dẫn những người yêu thích thiên văn cách nhận diện, quan sát hiện tượng hiếm gặp này (vụ nổ chỉ thấy một lần trong đời).
Câu 5.
• Phương tiện: Hình ảnh sơ đồ vị trí của T CrB trên bầu trời đêm (nằm gần chòm Corona Borealis, giữa Arcturus và Vega).
• Tác dụng: Giúp người đọc hình dung chính xác vị trí của ngôi sao mà ngôn ngữ viết khó diễn đạt hết.
• Hỗ trợ tra cứu: Giúp người xem dễ dàng thực hành, tìm kiếm ngôi sao trên thực tế bầu trời một cách nhanh chóng.
• Tăng sức hấp dẫn: Làm cho bài viết khoa học bớt khô khan, thu hút sự chú ý của người đọc.
Câu 1:
Ngôi kể thứ nhất (người kể chuyện xưng "tôi" - là một người đồng đội trong tiểu đội của Minh).
Câu 2:
Hình ảnh đôi mắt to và "sáng lấp lánh như vì sao". Đây là chi tiết trung tâm xuyên suốt tác phẩm, tượng trưng cho vẻ đẹp, niềm hy vọng và tình yêu thuần khiết của người lính.
Câu 3:
• Chỉ ra: Cách dùng từ "theo gió ra đi". Thông thường, "theo gió" thường dùng cho vật nhẹ (như lá, mây), còn "ra đi" là từ dùng để nói về cái chết một cách giảm nhẹ. Việc kết hợp hai cụm từ này tạo nên một cách diễn đạt lạ.
• Tác dụng:
• Giảm nhẹ nỗi đau: Diễn tả cái chết của Minh một cách thanh thản, nhẹ nhàng, không bi lụy dù thực tế rất khốc liệt.
• Tăng giá trị biểu cảm: Gợi hình ảnh linh hồn người lính hòa quyện vào thiên nhiên, đất nước; thể hiện sự trân trọng và xót thương vô hạn của người ở lại.
Câu 4:
• Nhận xét: Vẻ đẹp nổi bật của Minh là sự lạc quan, tâm hồn lãng mạn và niềm tin mãnh liệt vào tình yêu.
• Phân tích: Dù sống trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt (đi B, đi trinh sát nguy hiểm), Minh vẫn giữ một "bí mật" ngọt ngào về cô gái tên Hạnh. Dù sau đó anh thú nhận đó là chuyện "tưởng tượng" vì anh mồ côi, cô đơn, nhưng chính sự tưởng tượng ấy đã nuôi dưỡng tâm hồn anh, giúp anh và đồng đội có thêm sức mạnh để vượt qua những đêm rừng lạnh lẽo. Đó là vẻ đẹp của một thế hệ trẻ Việt Nam: yêu đời và đầy khát vọng sống ngay cả khi đối mặt với cái chết.
Câu 5:
• Thông điệp: Sự hy sinh thầm lặng và cao cả. Minh ngã xuống ngay trước ngày hòa bình, lá thư "vương máu" là minh chứng cho cái giá của độc lập. Thông điệp nhắc nhở chúng ta về lòng biết ơn đối với thế hệ cha anh đã gửi lại tuổi xuân và ước mơ cá nhân nơi chiến trường để đổi lấy hòa bình cho dân tộc.
Câu 1.
Thế thơ: Lục bát.
Câu 2.
Hai nhân vật Từ Hải và Thúy Kiều gặp nhau ở lầu xanh.
Câu 3.
- Biện pháp tu từ ẩn dụ: "Cỏ nội hoa hèn", "thân bèo bọt" chỉ thân phận nhỏ bé, nổi trôi của Thuý Kiều.
-Tác dụng:
+ Làm nổi bật sự khiêm nhường, mặc cảm về số phận của Thuý Kiều.
+ Gợi niềm xót thương và tô đậm sự trân trọng mà Từ Hải dành cho Thuý Kiêu.
Câu 4.
Nhận xét về nhân vật trên đoạn trích:
+ Ngoại hình: Oai phong lẫm liệt, đúng hình mẫu một anh hùng.
+ Ngôn ngữ: Nhẹ nhàng, từ tốn, hào sảng, phóng khoáng.
+ Hành động: Tôn trọng Kiều ("thiếp danh đưa đến lầu hồng"), xem Kiều như người tri kỉ, cứu Kiều ra khỏi lầu xanh, cùng Kiều "Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng."
→ Hành động nhanh chóng, dứt khoát.
Câu 5.
- Tình cảm/ cảm xúc:
+ Ngưỡng mộ đối với Từ Hải.
+ Trân trọng đối với Thúy Kiều.
+ Vui mừng với kết thúc viên mãn,...
Câu 1:
Bài thơ "Những người đàn bà gánh nước sông" thuộc thế thơ tự do.
Câu 2:
Bài thơ khắc hoạ hình ảnh những người phụ nữ với công việc gánh nước sông.
Câu 3:
- Phân tích hình ảnh biểu tượng:
+ "Bàn tay bám vào đầu đòn gánh bé bỏng chơi vơi": Biểu tượng cho thực tại nhọc nhằn, gánh nặng mưu sinh và sự bấp bênh của thân phận con người trước cuộc đời đây sóng gió.
+ "Bàn tay kia bám vào mây trắng": Biểu tượng cho thế giới tinh thần, niềm hi vọng, đức tin và vẻ đẹp tâm hồn thanh cao.
- Nhận xét về hình ảnh biểu tượng:
+ Hai hình ảnh song hành: một bên là thực tại nặng nề, một bên là khát vọng vươn lên, cho thấy vẻ đẹp tâm hồn và sức mạnh tinh thần của người đàn bà lao động.
+ Ca ngợi những con người lam lũ nhưng vẫn nuôi dưỡng giá trị tinh thân và khát vọng sống cao đẹp.
Câu 4:
- Ngôn ngữ:
+ Giàu tính tạo hình và góc cạnh (ví dụ: "ngón chân xương xẩu", "móng chân gà mái") tạo cảm giác chân thực đến trần trụi về cái nghèo, cái khổ.
+ Giản dị, gần gũi, giàu chất đời sống lao động, nông thôn.
- Giọng điệu:
+ Trầm buồn, suy tư và đầy xót xa khi quan sát những thân phận quẩn quanh.
+ Chứa đựng sự tôn kính và thấu cảm sâu sắc trước sự hi sinh bền bỉ của người phụ nữ.
Câu 5:
Trình bày suy nghĩa về giá trị của sự bền bỉ và cần cù:
-Giúp con người đối mặt với những nhọc nhằn của thực tại, duy trì sự ổn định cho gia đình và xã hội giống như hình ảnh những người đàn bà gánh nước nuôi lớn bao thế hệ.
-Giúp chúng ta không bỏ cuộc trước khó khăn, biến những gánh nặng mưu sinh thành động lực để vươn lên.
-Giúp con người rèn luyện kỷ luật và sự điềm tĩnh trước những biến động.
-Sự cần cù trong thời đại mới không nên là sự lặp lại đơn điệu, nó cần đi đôi với sự sáng tạo và tri thức để con người có thể bứt phá.
Trong giai đoạn tuổi dậy thì, con người sẽ có sự thay đổi trên những khía cạnh:
-Thể chất: tăng chiều cao, cân nặng; cơ quan sinh dục phát triển.
Ví dụ: Nam vỡ giọng, nữ bắt đầu có kinh nguyệt).
-Tâm lý: có sự thay đổi về cảm xúc, thích độc lập, bắt đầu có sự quan tâm đến bạn khác giới.
Vì sao cần hạn chế nạn tảo hôn ( kết hôn sớm ) ở những vùng sâu, vùng xa
+ Ở tuổi này, cơ thể ( đặc biệt là cơ quan sinh sản ) chưa hoàn thiện về mặt chức năng.
+ Gây nguy hiểm cho sức khoẻ của người mẹ và trẻ em ( dễ sảy thai, thai nhi suy dinh dưỡng ); ảnh hưởng đến cơ hội học tập và kinh tế.
Hạn chế bằng cách:
+ Giáo dục về sức khoẻ sinh sản và luật hôn nhân gia đình.
+ Xử lí nghiêm các trường hợp vị phạm luật hôn nhân.
+ Cải thiện kinh tế và dân trí để thay đổi các hủ tục lạc hậu.
Ứng dụng và cơ sở khoa học:
- Tiêu diệt sâu bệnh: Mỗi giai đoạn vòng đời có đặc điểm thích nghi khác nhau; tìm giai đoạn yếu nhất để tác động.
-Tăng năng suất cây trồng: Hiểu các giai đoạn sinh trưởng để cung cấp dịn dưỡng phù hợp.
-Chăn nuôi: Điều khiển môi trường theo giai đoạn để vật nuôi lớn nhanh.
Sinh trưởng là sự thay đổi về lượng ( to lên, dài ra), còn phát triển là sự thay đổi về chất ( ra hoa, kết quả, trưởng thành ).
Ví dụ: Một con gà con lúc mới nở nặng 50g, sau 2 tháng nuôi dưỡng nặng lên 1,5kg.
Con nòng nọc sống dưới nước, sau một thời gian mọc thêm chân, rụng đuôi và biến đổi thành con ếch có thể sống trên cạn.