LÊ HOÀNG KIM ANH
Giới thiệu về bản thân
Câu 1.
Hình ảnh con sông trong bài thơ "Nhớ con sông quê hương" của Tế Hanh hiện lên không chỉ là một thực thể thiên nhiên mà còn là biểu tượng của tâm hồn và nỗi nhớ. Ngay từ những câu thơ đầu, con sông đã được khắc họa với vẻ đẹp trong trẻo, thanh bình: "nước gương trong soi tóc những hàng tre". Tính từ "xanh biếc" gợi lên màu sắc đặc trưng, vừa bình dị vừa đầy sức sống của dòng sông quê. Sự hòa quyện độc đáo giữa "tâm hồn" người nghệ sĩ và "buổi trưa hè" nắng tỏa xuống lòng sông tạo nên một không gian nghệ thuật lung linh, "lấp loáng". Con sông ấy giống như một "nhân chứng" thời gian, âm thầm lưu giữ biết bao kỷ niệm vui buồn của tuổi thơ và cả cuộc đời ("tắm cả đời tôi"). Lời gọi "Hỡi con sông..." đầy tha thiết cho thấy sự gắn bó máu thịt, sâu nặng giữa con người và quê hương. Cuối cùng, dòng sông đã nâng tầm lên thành biểu tượng của tình yêu đất nước, của miền Nam ruột thịt. Qua đó, Tế Hanh đã gửi gắm một tình yêu quê hương chân thành, tươi mới và bất diệt.
Câu 2.
Cuộc sống ngày càng phát triển với sự bùng nổ của công nghệ thông tin, và Internet đang dần bao phủ mọi khía cạnh trong đời sống của con người thế kỷ 21. Chỉ với một chiếc smartphone hay laptop, người ta dễ dàng truy cập Internet bất cứ lúc nào. Thậm chí, nhiều cửa hàng mở cửa 24/24 giờ để đáp ứng nhu cầu cao của khách hàng. Tuy nhiên, hiện tượng ngồi lì trong quán net suốt ngày đêm đã trở nên phổ biến trong giới trẻ, đến mức họ quên ăn, quên ngủ và thậm chí là quên cả việc học. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng này bắt nguồn từ sức hấp dẫn khó cưỡng của mạng Internet. Nơi đây chứa đựng một kho tàng thông tin phong phú về tri thức, thời sự, kinh tế, xã hội, cùng với đó là một thế giới giải trí dồi dào như phim ảnh, âm nhạc và trò chơi điện tử. Những yếu tố này khiến cho thanh niên dễ dàng bị cuốn vào thế giới ảo, quên đi những trách nhiệm và nghĩa vụ của bản thân trong cuộc sống thực. Tuy nhiên, Internet không chỉ mang lại những lợi ích mà còn kèm theo nhiều hậu quả tiêu cực. Sự lạm dụng Internet có thể dẫn đến tình trạng sức khỏe kém, ảnh hưởng đến khả năng tập trung và học tập, cũng như làm giảm chất lượng các mối quan hệ xã hội. Những người nghiện Internet thường gặp khó khăn trong việc giao tiếp trực tiếp, và điều này có thể gây ra sự cô lập và trầm cảm. Đứng trước vấn nạn nghiện Internet đang diễn ra phổ biến, chúng ta cần có những giải pháp kịp thời. Trước hết, mỗi cá nhân cần tự nhận thức lại bản thân, định hướng mục tiêu dài hạn hơn và biết kiểm soát hành động của mình. Việc thiết lập thời gian sử dụng Internet hợp lý, kết hợp với các hoạt động ngoài trời, thể thao và giao lưu với bạn bè là rất quan trọng. Sống trong thời đại công nghệ, chúng ta không thể làm ngơ trước hiện tượng nghiện Internet. Mỗi người trẻ cần chủ động tìm kiếm sự cân bằng giữa thế giới ảo và thực tế, để không đánh mất đi những giá trị và cơ hội quý giá trong cuộc sống. Hãy biến Internet thành một công cụ hữu ích chứ không phải là một rào cản, để sống một cuộc đời trọn vẹn và ý nghĩa hơn.
Câu 1 . Thể thơ tự do
Câu 2. Đoạn trích là lời của người cha nói với con mình .
Câu 3. Người cha mong muốn con lớn lên sẽ có một cuộc đời tươi sáng, hạnh phúc và phát triển hơn so với thời thơ ấu .
Câu 4. - Biện pháp tu từ liệt kê: " góc phố", " căn nhà chật hẹp", " ngăn gác", " cầu thang","vỉa hè gạch cũ".
- Tác dụng : + Nhấn mạnh sự gắn bó, quen thuộc của con với những cảnh vật bình dị, đời thường của thành phố .
+Khơi gợi tình yêu quê hương, đất nước từ những điều nhỏ bé nhất.
+Tạo nhịp điệu nhẹ nhàng, sâu lắng cho câu thơ.
Câu 5. Thông điệp: Chúng ta cần biết yêu quý và trân trọng những giá trị bình dị, thân thuộc nơi mình sinh ra và lớn lên. Từ đó nuôi dưỡng tình yêu quê hương và nỗ lực sống một cuộc đời thật ý nghĩa.
Câu 1: Thể thơ Thất ngôn bát cú Đường luật. Câu 2: -Các hình ảnh: +Công cụ lao động: mai, cuốc, cần câu (tự mình lao động phục vụ nhu cầu cuộc sống). +Thức ăn theo mùa : măng trúc (mùa thu), giá (mùa đông). +Sinh hoạt: tắm hồ sen (mùa xuân), tắm ao (mùa hạ). -Nhận xét: Đây là lối sống thuận theo tự nhiên, giản dị nhưng vô cùng thảnh thơi, không màng danh lợi. Câu 3: -Biện pháp liệt kê: mai, cuốc, cần câu. -Tác dụng: +Tái hiện đầy đủ những công cụ gắn liền với công việc của người nông dân. +Nhấn mạnh tư thế chủ động, sẵn sàng của tác giả khi về sống ẩn dật. +Gợi ra một nhịp sống thư thái, ung dung, tự tại giữa chốn thôn quê. Câu 4: -Sự đặc biệt: Đây là cách nói ngược đời (thủ pháp nói mỉa). +"Dại" của tác giả: Tìm nơi vắng vẻ (nơi không có tranh giành quyền lực, sống hòa mình với thiên nhiên). Đây thực chất là cái "khôn" của người đại trí, giữ được tâm hồn trong sạch. +"Khôn" của người đời: Đến chốn lao xao (nơi phồn hoa đô hội, cửa quyền, đầy rẫy bon chen, hiểm nguy). Đây thực chất mới là cái "dại" vì đánh mất bản ngã và sự bình yên. -Ý nghĩa: Tác giả khẳng định bản lĩnh và thái độ coi thường danh lợi, khẳng định lựa chọn sống Nhàn là hoàn toàn đúng đắn. Câu 5: Vẻ đẹp nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua bài thơ "Nhàn" trước hết hiện lên ở thái độ trọng nghĩa khinh tài, coi thường phú quý như một giấc chiêm bao. Ông chọn rời xa chốn quan trường hiểm hóc để giữ gìn tiết tháo, sống thanh cao giữa thiên nhiên qua những thú vui bình dị như canh tác, tắm ao, ăn món ăn dân dã. Đó là một nhân cách lớn, vừa mang trí tuệ uyên thâm khi nhìn thấu quy luật cuộc đời, vừa mang tâm hồn thuần hậu, yêu chuộng hòa bình và sự tự do. Qua đó, ta thấy được bản lĩnh của một bậc đại ẩn, không bị cuốn vào vòng xoáy danh lợi tầm thường.
Câu 1: Thể thơ Thất ngôn bát cú Đường luật. Câu 2: -Các hình ảnh: +Công cụ lao động: mai, cuốc, cần câu (tự mình lao động phục vụ nhu cầu cuộc sống). +Thức ăn theo mùa : măng trúc (mùa thu), giá (mùa đông). +Sinh hoạt: tắm hồ sen (mùa xuân), tắm ao (mùa hạ). -Nhận xét: Đây là lối sống thuận theo tự nhiên, giản dị nhưng vô cùng thảnh thơi, không màng danh lợi. Câu 3: -Biện pháp liệt kê: mai, cuốc, cần câu. -Tác dụng: +Tái hiện đầy đủ những công cụ gắn liền với công việc của người nông dân. +Nhấn mạnh tư thế chủ động, sẵn sàng của tác giả khi về sống ẩn dật. +Gợi ra một nhịp sống thư thái, ung dung, tự tại giữa chốn thôn quê. Câu 4: -Sự đặc biệt: Đây là cách nói ngược đời (thủ pháp nói mỉa). +"Dại" của tác giả: Tìm nơi vắng vẻ (nơi không có tranh giành quyền lực, sống hòa mình với thiên nhiên). Đây thực chất là cái "khôn" của người đại trí, giữ được tâm hồn trong sạch. +"Khôn" của người đời: Đến chốn lao xao (nơi phồn hoa đô hội, cửa quyền, đầy rẫy bon chen, hiểm nguy). Đây thực chất mới là cái "dại" vì đánh mất bản ngã và sự bình yên. -Ý nghĩa: Tác giả khẳng định bản lĩnh và thái độ coi thường danh lợi, khẳng định lựa chọn sống Nhàn là hoàn toàn đúng đắn. Câu 5: Vẻ đẹp nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua bài thơ "Nhàn" trước hết hiện lên ở thái độ trọng nghĩa khinh tài, coi thường phú quý như một giấc chiêm bao. Ông chọn rời xa chốn quan trường hiểm hóc để giữ gìn tiết tháo, sống thanh cao giữa thiên nhiên qua những thú vui bình dị như canh tác, tắm ao, ăn món ăn dân dã. Đó là một nhân cách lớn, vừa mang trí tuệ uyên thâm khi nhìn thấu quy luật cuộc đời, vừa mang tâm hồn thuần hậu, yêu chuộng hòa bình và sự tự do. Qua đó, ta thấy được bản lĩnh của một bậc đại ẩn, không bị cuốn vào vòng xoáy danh lợi tầm thường.
Câu 1: Thể thơ Thất ngôn bát cú Đường luật. Câu 2: -Các hình ảnh: +Công cụ lao động: mai, cuốc, cần câu (tự mình lao động phục vụ nhu cầu cuộc sống). +Thức ăn theo mùa : măng trúc (mùa thu), giá (mùa đông). +Sinh hoạt: tắm hồ sen (mùa xuân), tắm ao (mùa hạ). -Nhận xét: Đây là lối sống thuận theo tự nhiên, giản dị nhưng vô cùng thảnh thơi, không màng danh lợi. Câu 3: -Biện pháp liệt kê: mai, cuốc, cần câu. -Tác dụng: +Tái hiện đầy đủ những công cụ gắn liền với công việc của người nông dân. +Nhấn mạnh tư thế chủ động, sẵn sàng của tác giả khi về sống ẩn dật. +Gợi ra một nhịp sống thư thái, ung dung, tự tại giữa chốn thôn quê. Câu 4: -Sự đặc biệt: Đây là cách nói ngược đời (thủ pháp nói mỉa). +"Dại" của tác giả: Tìm nơi vắng vẻ (nơi không có tranh giành quyền lực, sống hòa mình với thiên nhiên). Đây thực chất là cái "khôn" của người đại trí, giữ được tâm hồn trong sạch. +"Khôn" của người đời: Đến chốn lao xao (nơi phồn hoa đô hội, cửa quyền, đầy rẫy bon chen, hiểm nguy). Đây thực chất mới là cái "dại" vì đánh mất bản ngã và sự bình yên. -Ý nghĩa: Tác giả khẳng định bản lĩnh và thái độ coi thường danh lợi, khẳng định lựa chọn sống Nhàn là hoàn toàn đúng đắn. Câu 5: Vẻ đẹp nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua bài thơ "Nhàn" trước hết hiện lên ở thái độ trọng nghĩa khinh tài, coi thường phú quý như một giấc chiêm bao. Ông chọn rời xa chốn quan trường hiểm hóc để giữ gìn tiết tháo, sống thanh cao giữa thiên nhiên qua những thú vui bình dị như canh tác, tắm ao, ăn món ăn dân dã. Đó là một nhân cách lớn, vừa mang trí tuệ uyên thâm khi nhìn thấu quy luật cuộc đời, vừa mang tâm hồn thuần hậu, yêu chuộng hòa bình và sự tự do. Qua đó, ta thấy được bản lĩnh của một bậc đại ẩn, không bị cuốn vào vòng xoáy danh lợi tầm thường.
Câu 1: Bài làm
Trong guồng quay hối hả của xã hội hiện đại, lối sống chủ động chính là "chiếc chìa khóa" vạn năng mở ra cánh cửa thành công cho mỗi cá nhân. Sống chủ động không đơn thuần là việc hoàn thành tốt nhiệm vụ, mà đó là thái độ tự giác làm chủ cuộc đời, biết đặt ra mục tiêu và quyết tâm thực hiện chúng mà không cần sự thúc ép từ bên ngoài. Người có lối sống chủ động luôn ở trong tư thế sẵn sàng đón nhận thử thách, biến khó khăn thành cơ hội để khẳng định bản thân. Thay vì ngồi chờ đợi vận may, họ tự tay kiến tạo vận mệnh của chính mình. Sự chủ động giúp chúng ta rèn luyện bản lĩnh kiên cường, tư duy linh hoạt và sự tự tin cần thiết để đối mặt với những biến động không ngừng của thế giới. Ngược lại, nếu sống thụ động, chúng ta sẽ mãi là "cái bóng" của người khác, dễ dàng gục ngã trước giông bão và bỏ lỡ những thời cơ quý giá. Tuy nhiên, chủ động không đồng nghĩa với việc vội vàng hay độc đoán; nó cần đi kèm với sự quan sát và thấu hiểu. Mỗi bạn trẻ hãy bắt đầu chủ động từ việc tự học, tự chăm sóc bản thân để trở thành phiên bản tốt đẹp nhất của chính mình. Như ai đó đã nói: "Cách tốt nhất để dự báo tương lai là hãy tự tạo ra nó".
Câu 2: Bài làm
"Bức tranh ngày hè trong thơ Nguyễn Trãi không mang vẻ tĩnh lặng, đượm buồn thường thấy trong thơ cổ mà ngược lại, nó rực rỡ và tràn đầy nhựa sống. Những tán hòe xanh ngắt 'đùn đùn' che lấp cả khoảng không, những bông lựu 'phun' sắc đỏ rực rỡ bên hiên nhà. Các động từ mạnh như 'đùn đùn', 'phun' đã thổi hồn vào cảnh vật, khiến người đọc cảm nhận được nguồn nội lực đang trào dâng mãnh liệt. Không chỉ có sắc, bài thơ còn có hương của sen hồng và đặc biệt là âm thanh của cuộc sống. Tiếng 'lao xao' của chợ cá, tiếng ve 'dắng dỏi' như tiếng đàn... tất cả tạo nên một bản giao hưởng mùa hè ấm áp, thanh bình. Nhưng đằng sau vẻ thư thái 'hóng mát' ấy lại là một tâm hồn đang thao thức vì dân. Khát vọng về một tiếng đàn của vua Thuấn để cầu chúc cho dân chúng bốn phương được giàu đủ chính là điểm sáng ngời nhất của bài thơ. Qua đó, ta thấy được một Nguyễn Trãi dù trong hoàn cảnh nào cũng luôn giữ trọn tấm lòng 'ưu quốc ái dân' sâu nặng."
Câu 1: Thể thơ Thất ngôn bát cú Đường luật. Câu 2: -Các hình ảnh: +Công cụ lao động: mai, cuốc, cần câu (tự mình lao động phục vụ nhu cầu cuộc sống). +Thức ăn theo mùa : măng trúc (mùa thu), giá (mùa đông). +Sinh hoạt: tắm hồ sen (mùa xuân), tắm ao (mùa hạ). -Nhận xét: Đây là lối sống thuận theo tự nhiên, giản dị nhưng vô cùng thảnh thơi, không màng danh lợi. Câu 3: -Biện pháp liệt kê: mai, cuốc, cần câu. -Tác dụng: +Tái hiện đầy đủ những công cụ gắn liền với công việc của người nông dân. +Nhấn mạnh tư thế chủ động, sẵn sàng của tác giả khi về sống ẩn dật. +Gợi ra một nhịp sống thư thái, ung dung, tự tại giữa chốn thôn quê. Câu 4: -Sự đặc biệt: Đây là cách nói ngược đời (thủ pháp nói mỉa). +"Dại" của tác giả: Tìm nơi vắng vẻ (nơi không có tranh giành quyền lực, sống hòa mình với thiên nhiên). Đây thực chất là cái "khôn" của người đại trí, giữ được tâm hồn trong sạch. +"Khôn" của người đời: Đến chốn lao xao (nơi phồn hoa đô hội, cửa quyền, đầy rẫy bon chen, hiểm nguy). Đây thực chất mới là cái "dại" vì đánh mất bản ngã và sự bình yên. -Ý nghĩa: Tác giả khẳng định bản lĩnh và thái độ coi thường danh lợi, khẳng định lựa chọn sống Nhàn là hoàn toàn đúng đắn. Câu 5: Vẻ đẹp nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua bài thơ "Nhàn" trước hết hiện lên ở thái độ trọng nghĩa khinh tài, coi thường phú quý như một giấc chiêm bao. Ông chọn rời xa chốn quan trường hiểm hóc để giữ gìn tiết tháo, sống thanh cao giữa thiên nhiên qua những thú vui bình dị như canh tác, tắm ao, ăn món ăn dân dã. Đó là một nhân cách lớn, vừa mang trí tuệ uyên thâm khi nhìn thấu quy luật cuộc đời, vừa mang tâm hồn thuần hậu, yêu chuộng hòa bình và sự tự do. Qua đó, ta thấy được bản lĩnh của một bậc đại ẩn, không bị cuốn vào vòng xoáy danh lợi tầm thường.
Câu 1: Thể thơ Thất ngôn bát cú Đường luật. Câu 2: -Các hình ảnh: +Công cụ lao động: mai, cuốc, cần câu (tự mình lao động phục vụ nhu cầu cuộc sống). +Thức ăn theo mùa : măng trúc (mùa thu), giá (mùa đông). +Sinh hoạt: tắm hồ sen (mùa xuân), tắm ao (mùa hạ). -Nhận xét: Đây là lối sống thuận theo tự nhiên, giản dị nhưng vô cùng thảnh thơi, không màng danh lợi. Câu 3: -Biện pháp liệt kê: mai, cuốc, cần câu. -Tác dụng: +Tái hiện đầy đủ những công cụ gắn liền với công việc của người nông dân. +Nhấn mạnh tư thế chủ động, sẵn sàng của tác giả khi về sống ẩn dật. +Gợi ra một nhịp sống thư thái, ung dung, tự tại giữa chốn thôn quê. Câu 4: -Sự đặc biệt: Đây là cách nói ngược đời (thủ pháp nói mỉa). +"Dại" của tác giả: Tìm nơi vắng vẻ (nơi không có tranh giành quyền lực, sống hòa mình với thiên nhiên). Đây thực chất là cái "khôn" của người đại trí, giữ được tâm hồn trong sạch. +"Khôn" của người đời: Đến chốn lao xao (nơi phồn hoa đô hội, cửa quyền, đầy rẫy bon chen, hiểm nguy). Đây thực chất mới là cái "dại" vì đánh mất bản ngã và sự bình yên. -Ý nghĩa: Tác giả khẳng định bản lĩnh và thái độ coi thường danh lợi, khẳng định lựa chọn sống Nhàn là hoàn toàn đúng đắn. Câu 5: Vẻ đẹp nhân cách của Nguyễn Bỉnh Khiêm qua bài thơ "Nhàn" trước hết hiện lên ở thái độ trọng nghĩa khinh tài, coi thường phú quý như một giấc chiêm bao. Ông chọn rời xa chốn quan trường hiểm hóc để giữ gìn tiết tháo, sống thanh cao giữa thiên nhiên qua những thú vui bình dị như canh tác, tắm ao, ăn món ăn dân dã. Đó là một nhân cách lớn, vừa mang trí tuệ uyên thâm khi nhìn thấu quy luật cuộc đời, vừa mang tâm hồn thuần hậu, yêu chuộng hòa bình và sự tự do. Qua đó, ta thấy được bản lĩnh của một bậc đại ẩn, không bị cuốn vào vòng xoáy danh lợi tầm thường.