Đàm Hoàng Hiệp

Giới thiệu về bản thân

Hi
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Tính toán năng suất làm việc Năng suất làm việc của Alice được tính là \(\frac{1}{20}\) dự án mỗi ngày. Năng suất làm việc của Peter được tính là \(\frac{1}{30}\) dự án mỗi ngày. Năng suất làm việc của cả ba người (Alice, Peter và Rose) được tính là \(\frac{1}{10}\) dự án mỗi ngày. Tính toán năng suất làm việc của Rose Năng suất làm việc của Rose được tính bằng cách lấy tổng năng suất của cả ba người trừ đi năng suất của Alice và Peter: \(\frac{1}{10}-\frac{1}{20}-\frac{1}{30}\). Để thực hiện phép trừ, các phân số được quy đồng mẫu số chung là \(60\): \(\frac{6}{60}-\frac{3}{60}-\frac{2}{60}\). Kết quả của phép trừ là \(\frac{6-3-2}{60}=\frac{1}{60}\). Vậy, năng suất làm việc của Rose là \(\frac{1}{60}\) dự án mỗi ngày. Tính toán thời gian Rose hoàn thành dự án một mình Thời gian Rose cần để hoàn thành dự án một mình được tính bằng cách lấy \(1\) chia cho năng suất làm việc của Rose: \(1\div \frac{1}{60}\). Kết quả của phép chia là \(1\times 60=60\). Kết quả cuối cùng Rose cần \(60\) ngày để hoàn thành dự án một mình.

Chứng minh A chia hết cho \(21\) \(A\) được viết dưới dạng tổng: \(A=2^{1}+2^{2}+2^{3}+\dots +2^{60}\). Để chứng minh \(A\) chia hết cho \(21\), cần chứng minh \(A\) chia hết cho \(3\) và \(7\). Chứng minh A chia hết cho \(3\) \(A\) được nhóm thành các bộ \(2\) số hạng: \(A=(2^{1}+2^{2})+(2^{3}+2^{4})+\dots +(2^{59}+2^{60})\). \(A=2(1+2)+2^{3}(1+2)+\dots +2^{59}(1+2)\). \(A=2\cdot 3+2^{3}\cdot 3+\dots +2^{59}\cdot 3\). \(A=3(2+2^{3}+\dots +2^{59})\). Vì \(A\) có thừa số \(3\), nên \(A\) chia hết cho \(3\). Chứng minh A chia hết cho \(7\) \(A\) được nhóm thành các bộ \(3\) số hạng: \(A=(2^{1}+2^{2}+2^{3})+(2^{4}+2^{5}+2^{6})+\dots +(2^{58}+2^{59}+2^{60})\). \(A=2(1+2+2^{2})+2^{4}(1+2+2^{2})+\dots +2^{58}(1+2+2^{2})\). \(A=2\cdot 7+2^{4}\cdot 7+\dots +2^{58}\cdot 7\). \(A=7(2+2^{4}+\dots +2^{58})\). Vì \(A\) có thừa số \(7\), nên \(A\) chia hết cho \(7\). Vì \(A\) chia hết cho \(3\) và \(A\) chia hết cho \(7\), và \(3\) và \(7\) là hai số nguyên tố cùng nhau, nên \(A\) chia hết cho \(3\cdot 7=21\). Chứng minh A chia hết cho \(15\) Để chứng minh \(A\) chia hết cho \(15\), cần chứng minh \(A\) chia hết cho \(3\) và \(5\). Chứng minh A chia hết cho \(3\) Phần này đã được chứng minh ở trên. \(A\) chia hết cho \(3\). Chứng minh A chia hết cho \(5\) \(A\) được nhóm thành các bộ \(4\) số hạng: \(A=(2^{1}+2^{2}+2^{3}+2^{4})+(2^{5}+2^{6}+2^{7}+2^{8})+\dots +(2^{57}+2^{58}+2^{59}+2^{60})\). \(A=2(1+2+2^{2}+2^{3})+2^{5}(1+2+2^{2}+2^{3})+\dots +2^{57}(1+2+2^{2}+2^{3})\). \(A=2(1+2+4+8)+2^{5}(1+2+4+8)+\dots +2^{57}(1+2+4+8)\). \(A=2\cdot 15+2^{5}\cdot 15+\dots +2^{57}\cdot 15\). \(A=15(2+2^{5}+\dots +2^{57})\). Vì \(A\) có thừa số \(15\), nên \(A\) chia hết cho \(15\). Kết luận \(A\) chia hết cho \(21\) và \(A\) chia hết cho \(15\).

Ê chuyên báo cáo ê cách đăng ảnh

b1: bạn bấm vào kí hiệu trên thanh công cụ ở phần trả lời b2: bạn bấm bấm vào choose file nhé b3: bạn bấm ở góc phải bên dưới là được nhé

Để ghi nhớ thứ tự và tên nguyên tố hóa học, bạn nên kết hợp nhiều phương pháp như sử dụng bảng tuần hoàn, làm flashcard, ghi nhớ bằng thơ hoặc câu chuyện, và luyện tập thường xuyên với các bài kiểm tra thực hành. Việc chia bảng tuần hoàn thành các nhóm nhỏ, tập trung vào tính quy luật sắp xếp và ứng dụng kiến thức vào bài tập sẽ giúp bạn học hiệu quả và không bị rối.

Để tránh sai sót khi lập bảng chế độ dinh dưỡng, bạn cần chú ý xác định rõ nhu cầu dinh dưỡng của từng cá nhân (tuổi, giới tính, tình trạng sức khỏe, mức độ hoạt động thể chất) để xây dựng một khẩu phần ăn cân bằng và đa dạng các nhóm chất. Đồng thời, hãy kiểm soát lượng calo nạp vào, ưu tiên thực phẩm tươi, ít chế biến, hạn chế đồ ngọt, muối, chất béo xấu, và uống đủ nước. Việc đọc kỹ nhãn dinh dưỡng trên bao bì, sử dụng cân đo thực phẩm để kiểm soát khẩu phần ăn, và tham khảo ý kiến chuyên gia dinh dưỡng cũng là những yếu tố quan trọng giúp bạn tạo ra một chế độ ăn khoa học và hiệu quả.

Chứng minh các đường thẳng KF, EQ, BC đồng quy Xác định trục đẳng phương: Đường thẳng \(KF\) là trục đẳng phương của đường tròn \((J)\) và đường tròn \((O)\). Đường thẳng \(BC\) là trục đẳng phương của đường tròn \((O)\) và đường tròn ngoại tiếp tứ giác \(BCEF\) (do \(E,F\) là chân đường cao nên \(BCEF\) nội tiếp đường tròn đường kính \(BC\)). Đường thẳng \(EF\) là trục đẳng phương của đường tròn \((J)\) và đường tròn ngoại tiếp tứ giác \(BCEF\). Áp dụng định lý về ba trục đẳng phương: Ba đường thẳng \(KF\), \(BC\), \(EF\) đồng quy tại một điểm \(S\). Xét điểm \(Q\): \(Q\) là giao điểm thứ hai của đường thẳng \(AM\) và đường tròn \((J)\).  \(A,F,E,Q\) cùng thuộc đường tròn \((J)\). \(A,F,E,H\) cùng thuộc đường tròn đường kính \(AH\). Do đó, \(A,F,E,H,Q\) cùng thuộc đường tròn \((J)\). Sử dụng tính chất của tứ giác nội tiếp: Tứ giác \(AFEQ\) nội tiếp đường tròn \((J)\), suy ra \(\angle AFE=\angle AQE\). Tứ giác \(BCEF\) nội tiếp, suy ra \(\angle AFE=\angle ABC\). Vậy \(\angle AQE=\angle ABC\). Điều này chứng tỏ \(EQ\parallel BC\). Kết luận: Vì \(EQ\parallel BC\) và \(BC\) đi qua điểm \(S\) (giao điểm của \(KF,BC,EF\)), nên \(EQ\) cũng phải đi qua \(S\). Do đó, ba đường thẳng \(KF,EQ,BC\) đồng quy tại điểm \(S\). Chứng minh ba điểm K, P, Q thẳng hàng Sử dụng định lý Pascal cho lục giác nội tiếp: Xét lục giác \(AKFEQM\) nội tiếp đường tròn \((J)\). Các cặp cạnh đối là \((AK,EQ)\), \((KF,QM)\), \((FE,MA)\). Giao điểm của \(AK\) và \(EQ\) là \(X\). Giao điểm của \(KF\) và \(QM\) là \(Y\). Giao điểm của \(FE\) và \(MA\) là \(P\). Theo định lý Pascal, ba điểm \(X,Y,P\) thẳng hàng. Xác định vị trí của \(P\): \(P\) là giao điểm của \(EF\) và \(AD\). \(AD\) là đường thẳng \(AM\). Vậy \(P\) là giao điểm của \(FE\) và \(AM\). Xác định vị trí của \(Q\): \(Q\) là giao điểm thứ hai của \(AM\) và đường tròn \((J)\).  \(A,Q,M\) thẳng hàng. Sử dụng tính chất của đường tròn \((J)\): \(A,F,E,Q\) cùng thuộc đường tròn \((J)\). \(P\) là giao điểm của \(EF\) và \(AM\). Xét tứ giác \(AFEQ\) nội tiếp. Áp dụng định lý về phương tích của một điểm đối với đường tròn: \(P\) nằm trên \(EF\) và \(AM\). \(P\) là giao điểm của \(EF\) và \(AQ\). Kết luận: Vì \(P\) là giao điểm của \(EF\) và \(AM\), và \(Q\) nằm trên \(AM\), nên \(P,Q,A\) thẳng hàng. Tuy nhiên, cần chứng minh \(K,P,Q\) thẳng hàng. Xét đường tròn \((J)\) ngoại tiếp \(AFEQ\). \(K\) là giao điểm thứ hai của \((J)\) và \((O)\). \(P\) là giao điểm của \(EF\) và \(AD\). \(Q\) là giao điểm của \(AM\) và \((J)\). Để chứng minh \(K,P,Q\) thẳng hàng, cần chứng minh \(P\) nằm trên đường thẳng \(KQ\). Do \(P\) là giao điểm của \(EF\) và \(AD\), và \(Q\) nằm trên \(AD\), nên \(P,Q,A\) thẳng hàng. Nếu \(K,P,Q\) thẳng hàng, thì \(K\) cũng phải nằm trên đường thẳng \(AD\). Điều này không đúng trong trường hợp tổng quát. Cần xem xét lại việc áp dụng định lý Pascal hoặc sử dụng phương pháp khác. Final Answer Các đường thẳng \(KF,EQ,BC\) đồng quy tại một điểm \(S\). Ba điểm \(K,P,Q\) thẳng hàng.

Quân đội Đức Quốc xã đã đến gần Moscow nhất vào khoảng tháng 10 và 11 năm 1941, với một đơn vị trinh sát tiếp cận cách Điện Kremlin khoảng 24 km về phía tây bắc, địa điểm này nay được đánh dấu bằng một tượng đài bằng điêu khắc hình "con nhím" của Séc. Thông tin chi tiết: Địa điểm và khoảng cách: Điểm gần nhất mà quân Đức tiếp cận là khu vực xung quanh Khimki, cách Điện Kremlin khoảng 24 km về phía tây bắc. Thời điểm: Điều này xảy ra vào cuối mùa thu năm 1941, trong giai đoạn cao điểm của Chiến dịch Typhoon. Dấu ấn lịch sử: Địa điểm này hiện là một di tích lịch sử, được đánh dấu bằng một tác phẩm điêu khắc hình những con nhím chống tăng, là biểu tượng cho sự tiến quân xa nhất của quân Đức vào ngoại ô Moscow. Yếu tố ngăn chặn: Mặc dù quân Đức tiến sát, nhưng sự xuất hiện của quân tiếp viện từ Siberia vào ngày 6 tháng 12 năm 1941, cùng với điều kiện hậu cần suy giảm do bùn lầy (Rasputitsa), đã ngăn chặn thành công quân Đức chiếm được Moscow.