Nguyễn Linh Đan
Giới thiệu về bản thân
Cuộc sống của con người thường cần những chuyến hành trình để tích luỹ kiến thức quý báu cho bản thân, và đặc biệt, việc khám phá các di sản lịch sử và văn hóa giúp chúng ta hiểu sâu hơn về lịch sử và văn hóa của đất nước, quê hương mình. Tôi cũng đã có cơ hội trải nghiệm một chuyến đi đáng nhớ như vậy.
Điểm đến của chúng tôi là Bảo tàng Dân tộc học. Một chiều chủ nhật, tôi và chị gái đã quyết định bắt xe buýt để khám phá. Sáng sớm, tôi đã thức dậy lúc sáu giờ để chuẩn bị. Sau một bữa sáng nhanh chóng, tôi lựa chọn một bộ trang phục phù hợp cho chuyến tham quan. Rồi chúng tôi cùng nhau ra bến xe buýt để bắt chuyến xe tiếp theo. Cuộc di chuyển kéo dài khoảng ba mươi phút. Chúng tôi đến bến gần cổng Bảo tàng và tôi đứng chờ chị gái mua vé, sau đó cùng nhau theo sự hướng dẫn của bác bảo vệ để bước vào.
Khi bước qua cánh cổng Bảo tàng, tôi đã ngạc nhiên trước tòa nhà lớn với mái vòm ấn tượng. Dòng chữ "Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam" được khắc trên một viên đá lớn trên tòa nhà, thu hút ánh nhìn của tất cả. Bảo tàng này được chia thành ba khu trưng bày chính: tòa nhà Trống Đồng, khu trưng bày ngoài trời (Vườn Kiến trúc), và tòa Cánh diều (khu trưng bày Đông Nam Á). Chúng tôi đã thăm quan lần lượt các khu trưng bày này.
Đầu tiên, tòa nhà Trống Đồng, nơi trưng bày và giới thiệu đa dạng văn hóa của năm mươi tư dân tộc. Tại đây, chúng tôi được tiếp xúc với nhiều hiện vật, thước phim và hình ảnh miêu tả đời sống, trang phục, nghệ thuật, nông cụ, tôn giáo, và tục lệ của các dân tộc khác nhau.
Ra khỏi tòa nhà Trống Đồng, chúng tôi nhận thấy một khu trưng bày ngoài trời rộng lớn. Tại đây, chúng tôi được trải nghiệm kiến trúc độc đáo của nhiều dân tộc khác nhau, như ngôi nhà nhà rông của người Ba-na, ngôi nhà sàn dài của người Ê-đê, ngôi nhà của người Tày, ngôi nhà nửa sàn nửa đất của người Dao, ngôi nhà truyền thống của người H'mông, ngôi nhà ngói của người Việt, ngôi nhà sàn thấp của người Chăm, ngôi nhà trình tường của người Hà Nhì, nhà mồ tập thể của người Giarai, và nhà mồ cá nhân của người Cơtu. Chúng tôi đã chụp nhiều bức ảnh đẹp tại đây.
Cuối cùng, chúng tôi đã đến khu trưng bày Đông Nam Á, với tòa nhà hình Cánh diều và bốn tầng. Tại đây, chúng tôi được tìm hiểu về các văn hóa ngoài Việt Nam, như văn hóa Đông Nam Á, tranh kính Indonesia, Một thoáng châu Á và Vòng quanh thế giới. Nơi này còn có hội trường, phòng chiếu phim và phòng đa phương tiện, giúp chúng tôi hiểu thêm về văn hóa của các quốc gia trên khắp thế giới.
Kết thúc buổi sáng thú vị này, tôi và chị gái đã tích luỹ được nhiều kiến thức bổ ích và trải nghiệm thú vị. Chuyến tham quan diễn ra suôn sẻ và đáng nhớ. Tôi mong rằng trong tương lai, sẽ có thêm nhiều chuyến đi học hỏi và khám phá để làm phong phú kiến thức và đam mê của tôi đối với văn hóa và lịch sử.
Câu 1:
Bài thơ “Cảnh ngày hè” được viết theo thể thơ thất ngôn xen lục ngôn.
Câu 2
Cây hòe, cây thạch lựu, hoa sen, cây hồng.
Câu 3:
Biện pháp đảo ngữ làm nổi bật âm thanh "lao xao" và "dắng dỏi", nhấn mạnh sự nhộn nhịp, náo nhiệt của cuộc sống làng quê lúc chiều muộn, cho thấy sự sôi động và đầy sức sống.
Câu 4:
Tác giả bộc lộ niềm mong mỏi tha thiết về một cuộc sống ấm no, hạnh phúc, thái bình cho nhân dân.
Câu 5:
Chủ đề:
Tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống và tấm lòng yêu nước, thương dân sâu sắc của tác giả.
Căn cứ :
Bài thơ có những hình ảnh thiên nhiên đẹp đẽ, tràn đầy sức sống được miêu tả bằng nhiều giác quan
Hai câu cuối bài thể hiện khát vọng về một cuộc sống ấm no, thái bình cho nhân dân, mượn điển tích "khúc đàn Nam Phong" để nói lên điều đó.
Câu 6:
Từ niềm vui của Nguyễn Trãi, em rút ra bài học: Dù cuộc sống có bộn bề, lo toan, chúng ta vẫn có thể tìm thấy niềm vui và sự lạc quan trong những điều giản dị xung quanh như ngắm nhìn cây cỏ, lắng nghe âm thanh cuộc sống, tận hưởng hương hoa. Điều đó giúp ta giữ vững tinh thần yêu đời, sống trọn vẹn hơn và lan tỏa năng lượng tích cực đến mọi người.