Dương Ngọc Long
Giới thiệu về bản thân
Hà Nội là thủ đô của đất nước Việt Nam. Thành phố có nhiều khu di tích, lịch sử. Trong đó, tôi đã được đến thăm Hoàng thành Thăng Long.
Buổi sáng, tôi và chị Thương đã thức dậy thật sớm. Chuẩn bị xong, hai chị em ra bến xe buýt để bắt xe đến Hoàng thành Thăng Long. Khu di tích nằm ở địa chỉ 19C Hoàng Diệu, phường Điện Biên, quận Ba Đình. Xe di chuyển mất khoảng một tiếng mới đến nơi. Chị Thương vào mua vé, còn tôi đứng ngoài đợi.
Sau đó, chúng tôi vào thăm từng địa điểm trong khu di tích. Khu di tích bao gồm nhiều công trình kiến trúc độc đáo. Điểm dừng chân đầu tiên của chúng tôi đó chính là Kỳ Đài, hay còn được gọi là Cột cờ Hà Nội. Di tích này có kết cấu dạng tháp, được xây dựng dưới triều Nguyễn từ năm 1805 đến 1812. Rời khỏi đây, chúng tôi đi thêm một đoạn nữa là đến Đoan Môn, cổng chính dẫn vào Hoàng thành. Đoan Môn có từ thời Lý, nhưng kiến trúc hiện tại là do nhà Lê xây dựng vào thế kỷ XV và nhà Nguyễn tu bổ vào thế kỷ XIX. Từ Đoan Môn, chúng tôi băng qua một khoảng sân lớn gọi là Long Trì, rồi đến Điện Kính Thiên. Điện được xây vào năm 1428, là nơi vua Lê Thái Tổ đăng cơ, về sau trở thành nơi cử hành các nghi lễ long trọng của triều đình, các buổi thiết triều và đón tiếp sứ giả nước ngoài. Hiện nay, công trình này chỉ còn giữ lại được phần nền và hai bậc thềm rồng đá. Năm trong khuôn viên di tích nền điện Kính Thiên là di tích cách mạng Nhà D67 và Hầm D67. Ở đây có Phòng họp của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương; Phòng làm việc của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Phòng làm việc của Đại tướng Văn Tiến Dũng.
Tiếp đến, chúng tôi di chuyển đến Hậu Lâu, hay còn được gọi là Tĩnh Bắc Lâu, là tòa lầu được xây phía sau Điện Kính Thiên. Xưa, nơi đây là chốn sinh hoạt của hoàng hậu, công chúa, và các cung tần, mỹ nữ. Kế tiếp, tôi và chị gái di chuyển khá một đoạn khá xa để ghé thăm Chính Bắc Môn, hay Cửa Bắc, là một trong năm cửa của thành cổ Hà Nội thuộc thời Nguyễn, và cũng là cửa thành duy nhất còn sót lại. Tôi đã được biết thêm nhiều kiến thức bổ ích về lịch sử, cũng như có nhiều bức ảnh đẹp.
Niềm hi vọng trong cuộc sống là vô cùng quan vì nó dạy ta phải biết đặt niêm tin vào một viễn cảnh tốt đẹp hơn của cuộc sông mỗi người
Tâm trạng của tác giả trong bài thơ trên là tâm trạng hạnh phúc khi đến phiêm chợ cuối tháng Chạp
Vào một ngày đẹp trời cuối tuần em có dịp tham gia chuyến đi tham quan Lăng chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với các bạn trong lớp. Em rất hào hứng và súc động khi nhìn thấy nơi an nghỉ của Bác.
Sáng hôm đó tập trung đầy đủ tại sân trường trong không khí rôn ráng náo nức.Ai cũng mặc đồng phục gọn gàng mang theo đồ dùng cá nhân như mũ , túi , nước uống , đồ ăn nhẹ , ....Khoảng 7h xe bắt đầu lăn bánh chở chung em mái trường thân quen để hướng tới thủ đô Hà Nội , trên dường đi anh hướng dẫn viên du lịch kể cho chúng em nghe về cuộc và sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Bác .Càng nghe
em càng kính phục và mong sớm được vào viêng thăm nơi an nghỉ của Người . khi đến Quảng Trường Ba Đình em thấy lòng mình như lặng đi trước khung cảnh nghiêm trang Lăng Bác hiện ra sừng sững uy nghi giữ Quảng Trường Ba Đình rộng lớn . Xung quanh là hàng cây xanh khiến không gian càng thêm thanh tịnh . chúng em xếp hàng ngay ngắn giữ chật tự tuyệt đối đẻ vào viêng lăng , bên trong không khí mát lạnh yên tĩnh đến lạ thường . Ai cũng im lặng , bước đi chậm rãi để thể hiện lòng thành kính khi được thấy Bác nằm trong Lăng khuôn mặt hiền từ như đang theo dõi con cháu khiến em súc động nghẹn ngào. Rời Lăng Bác chúng em được đền thăm ngôi nhà sàn đơn sơ nơi Bác đă từng sống và làm việc ngôi nhà gỗ nhỏ bên cạnh ao cá được giữ gìn cẩn thận cho thấy cuộc sống giản dị và thanh cao của Người . Sau đó ảnh hướng dẫn viên đưa chúng em đi tham quan bảo tàng Hồ Chí Minh nơi chưng bầy rất nhiều hiện vật và hình ảnh về Bác . Em ấn tượng nhất với chiếc áo kaki cũ , đôi dép cao su mòn vẹt biểu tượng cho lối sống giản dị của vị lãnh tụ kính yêu.
Chuyến đi tham quan Lăng Bác đã để lại cảm xúc sâu sắc em thấy biết ơn và thêm phần tự hào về vị cha già dân tộc
Câu1: Bài thơ "cảnh ngày hè" thuộc thể thơ thất ngôn bát cú Đường Luật
Câu2: Những từ ngữ thiên nhiên được dùng trong bài thơ là: hèo lục, thạch lưu, hồng liên trì, chợ cá
Câu3:
*Biện pháp tu từ: đảo ngữ "dắng dỏi" và "cầm ve"
*Tác dụng:
-Làm cho câu văn câu thơ thêm gợi hình, gợi cảm
-Làm nổi bật tiếng kêu inh ỏi của những con ve vào ngày hè
Câu4: Ở câu hai câu cuối đã thể hiện cảm xúc tiếc nuối trước cảnh nghèo khó của quê hương,ông lấy thời của vua Ngu Thuấn làm ví dụ cho một thời đại mình luôn mong muốn
Câu5: Chủ đề của bài thơ là khắc hoạ thiên nhiên nơi tác giả sinh sống . Vì dựa vào nhưng câu thơ miêu tả lại thiên nhiên xung quanh ông
Câu6: Bài học em rút ra được từ bài thơ trên là về sự lạc quan trước những thứ nhỏ nhặt trong cuộc sống vì dù có sao đi nữa ta nên có một tinh thần lạc quan