Nguyễn Phương Nhi
Giới thiệu về bản thân
câu 1: thể loại: Truyện truyền kì
câu 2: Khi trở về quê cũ, Từ Thức rơi vào tình huống thời gian đã trôi qua hơn 80 năm, cảnh vật đổi thay, người quen xưa không còn, chàng trở thành kẻ lạc lõng giữa trần thế.
câu 3:
câu 1: thể loại: Truyện truyền kì
câu 2: Văn bản thể hiện bi kịch tình yêu tan vỡ vì lễ giáo và sự phân biệt giàu nghèo, đồng thời ca ngợi tình yêu chân thành, thủy chung son sắt.
câu 3:Người cha ngăn cản vì cho rằng Nguyễn Sinh nghèo khó. Em thấy cách hành xử của người cha lạnh lùng, trọng của cải hơn tình cảm, thiếu nhân văn, đã vô tình đẩy con gái vào bi kịch
câu 4: Chi tiết kì ảo: Khối đá đỏ trong ngực cô gái, khi Nguyễn Sinh khóc thì tan ra thành máu tươi.
Tác dụng:
-Thể hiện tình yêu mãnh liệt, hóa thành vật thể bất diệt.
-Làm nổi bật sự đồng cảm, gắn bó keo sơn giữa hai người.
-Tăng sức gợi cảm xúc bi thương, khắc sâu ấn tượng về sự thủy chung trong tình yêu.
câu 5:
Từ văn bản, có thể thấy trong xã hội phong kiến, con người luôn khao khát một tình yêu chân thành, xuất phát từ sự đồng cảm và gắn bó giữa hai tâm hồn. Tuy nhiên, khát vọng ấy thường bị ngăn trở bởi lễ giáo, định kiến giàu nghèo và tư tưởng “môn đăng hộ đối” khắt khe. Câu chuyện tình ở Thanh Trì cho thấy tình yêu trong sáng và thủy chung của đôi trai gái đã không vượt qua được sự ngăn cản của gia đình, để lại nỗi đau bi thương. Điều đó phản ánh bi kịch tình yêu thời phong kiến: cá nhân không được tự do quyết định hạnh phúc của mình. Qua đó, ta càng trân trọng hơn khát vọng tình yêu tự do, bình đẳng – giá trị nhân văn cao đẹp và cũng là khát vọng muôn đời của con người.
a/ Hành vi của các bạn đối với A gây hậu quả nặng nề về cả thể chất và tinh thần.
+ Khiến A lo sợ mỗi khi đến lớp.
+ Làm A mất tự tin, ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lí và việc học tập,...
b/
- An ủi và khích lệ A.
- Khuyến khích A chia sẻ với người lớn: Giúp A kể lại toàn bộ sự việc cho giáo viên chủ nhiệm, thầy cô hoặc cha mẹ để nhận được sự bảo vệ.
- Thông báo với thầy cô hoặc người có trách nhiệm: Nếu A vẫn sợ và không dám kể, em có thể thay A nói với giáo viên chủ nhiệm hoặc thầy cô để can thiệp kịp thời.
a/ Hành vi của các bạn đối với A gây hậu quả nặng nề về cả thể chất và tinh thần.
+ Khiến A lo sợ mỗi khi đến lớp.
+ Làm A mất tự tin, ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lí và việc học tập,...
b/
- An ủi và khích lệ A.
- Khuyến khích A chia sẻ với người lớn: Giúp A kể lại toàn bộ sự việc cho giáo viên chủ nhiệm, thầy cô hoặc cha mẹ để nhận được sự bảo vệ.
- Thông báo với thầy cô hoặc người có trách nhiệm: Nếu A vẫn sợ và không dám kể, em có thể thay A nói với giáo viên chủ nhiệm hoặc thầy cô để can thiệp kịp thời.
vì đi tolet quá nhè :]
a) xét ABCD là hình bình hành có: AB = CD, AB // CD.
Vì E, F lần lượt là trung điểm của AB, CD nên AE = BE = AB/2, CF = DF = CD/2
suy ra AE = BE = CF = DF.
Xét tứ giác AEFD có:
AE // DF ( AB // CD)
AE = DF (theo chứng minh trên)
Do đó tứ giác AEFD là hình bình hành.
Xét tứ giác AECF có:
AE // CF (AB // CD);
AE = CF (theo chứng minh trên)
Vậy tứ giác AECF là hình bình hành.
Suy ra hai tứ giác AEFD, AECF là những hình bình hành.
b) Xét hình bình hành AEFD ta có AD = EF.
xét hình bình hành AECF có AF = EC.
Vậy EF = AD; AF = EC.
a) xét ABCD là hình bình hành có: AB = CD, AB // CD.
Vì E, F lần lượt là trung điểm của AB, CD nên AE = BE = AB/2, CF = DF = CD/2
suy ra AE = BE = CF = DF.
Xét tứ giác AEFD có:
AE // DF ( AB // CD)
AE = DF (theo chứng minh trên)
Do đó tứ giác AEFD là hình bình hành.
Xét tứ giác AECF có:
AE // CF (AB // CD);
AE = CF (theo chứng minh trên)
Vậy tứ giác AECF là hình bình hành.
Suy ra hai tứ giác AEFD, AECF là những hình bình hành.
b) Xét hình bình hành AEFD ta có AD = EF.
xét hình bình hành AECF có AF = EC.
Vậy EF = AD; AF = EC.
a) xét ABCD là hình bình hành có: AB = CD, AB // CD.
Vì E, F lần lượt là trung điểm của AB, CD nên AE = BE = AB/2, CF = DF = CD/2
suy ra AE = BE = CF = DF.
Xét tứ giác AEFD có:
AE // DF ( AB // CD)
AE = DF (theo chứng minh trên)
Do đó tứ giác AEFD là hình bình hành.
Xét tứ giác AECF có:
AE // CF (AB // CD);
AE = CF (theo chứng minh trên)
Vậy tứ giác AECF là hình bình hành.
Suy ra hai tứ giác AEFD, AECF là những hình bình hành.
b) Xét hình bình hành AEFD ta có AD = EF.
xét hình bình hành AECF có AF = EC.
Vậy EF = AD; AF = EC.
a) xét ABCD là hình bình hành có: AB = CD, AB // CD.
Vì E, F lần lượt là trung điểm của AB, CD nên AE = BE = AB/2, CF = DF = CD/2
suy ra AE = BE = CF = DF.
Xét tứ giác AEFD có:
AE // DF ( AB // CD)
AE = DF (theo chứng minh trên)
Do đó tứ giác AEFD là hình bình hành.
Xét tứ giác AECF có:
AE // CF (AB // CD);
AE = CF (theo chứng minh trên)
Vậy tứ giác AECF là hình bình hành.
Suy ra hai tứ giác AEFD, AECF là những hình bình hành.
b) Xét hình bình hành AEFD ta có AD = EF.
xét hình bình hành AECF có AF = EC.
Vậy EF = AD; AF = EC.
Vì \(AH\) là đường cao của tam giác \(ABC\) nên \(AH\perp BC\), suy ra \(\angle AHC=90^{\circ }\). Hình bình hành \(AHCD\) có một góc vuông (\(\angle AHC=90^{\circ }\)) nên \(AHCD\) là hình chữ nhật.