Vũ Quỳnh Mai

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Vũ Quỳnh Mai
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Các nhân tố kinh tế – xã hội ảnh hưởng quan trọng tới phát triển và phân bố nông nghiệp vì:


  • Dân cư và lao động cung cấp nguồn lao động cho sản xuất nông nghiệp.
  • Thị trường tiêu thụ quyết định quy mô và hướng sản xuất nông nghiệp.
  • Khoa học – công nghệ giúp tăng năng suất, chất lượng sản phẩm.
  • Chính sách của Nhà nước và cơ sở hạ tầng (giao thông, thủy lợi…) thúc đẩy phát triển nông nghiệp và ảnh hưởng đến sự phân bố cây trồng, vật nuôi.



Điều 16, Điều 26 và Điều 46  Luật Bình đẳng giới năm 2006 được cụ thể hóa từ các điều khoản trong Hiến pháp Việt Nam. Ba điều tiêu biểu trong Hiến pháp được cụ thể hóa thành Luật Bình đẳng giới năm 2006 là: 
  • Điều 16: Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội. 
  • Điều 26: Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt. Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới. Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò trong xã hội. Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới. 
  • Điều 46: Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định. (Điều này được cụ thể hóa trong việc đảm bảo quyền bình đẳng trong tham gia quản lý nhà nước, hoạt động xã hội, v.v.). 
Ba điều trong Hiến pháp được cụ thể hoá thành Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015 là Điều 35, Điều 49 và Điều 58 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015 được ban hành nhằm cụ thể hóa các quy định cơ bản của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền công dân liên quan đến lao động và an toàn lao động. Cụ thể: 
  • Điều 35 Hiến pháp 2013 quy định: "Công dân có quyền làm việc; lựa chọn nghề nghiệp, nơi làm việc và thu nhập. Người làm công ăn lương được bảo đảm các điều kiện làm việc công bằng, an toàn; được hưởng lương, chế độ nghỉ ngơi. Nghiêm cấm phân biệt đối xử, cưỡng bức lao động, sử dụng lao động dưới độ tuổi lao động tối thiểu". Luật An toàn, vệ sinh lao động cụ thể hóa quyền được làm việc trong điều kiện an toàn, vệ sinh của người lao động. 
  • Điều 49 Hiến pháp 2013 quy định: "Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội". Luật An toàn, vệ sinh lao động quy định các chính sách, chế độ đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, góp phần bảo đảm quyền an sinh xã hội cho người lao động. 
  • Điều 58 Hiến pháp 2013 quy định: "Nhà nước, xã hội đầu tư phát triển sự nghiệp y tế; chăm sóc sức khỏe nhân dân; thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân; có chính sách ưu tiên chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào dân tộc thiểu số, vùng miền núi, hải đảo và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Xây dựng nền y học dân tộc, kết hợp y học hiện đại với y học dân tộc". Luật này cụ thể hóa các biện pháp chăm sóc sức khỏe, phòng ngừa bệnh nghề nghiệp cho người lao động.
 Ba điều trong Hiến pháp được cụ thể hoá thành Luật Trẻ em năm 2016 Luật Trẻ em năm 2016 được ban hành để cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp về quyền trẻ em, bao gồm: 
  • Quyền được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục: Hiến pháp quy định trẻ em có quyền này, và Luật Trẻ em cụ thể hóa thành các quyền về học tập, vui chơi, bảo đảm an toàn và phát triển toàn diện. 
  • Trách nhiệm của gia đình, Nhà nước và xã hội: Hiến pháp nhấn mạnh trách nhiệm của các bên liên quan trong việc bảo vệ quyền lợi của trẻ em. 
  • Nguyên tắc không phân biệt đối xử: Đảm bảo tất cả trẻ em đều được hưởng các quyền như nhau, không phân biệt đối xử.