Nguyễn Đăng Long

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Đăng Long
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1. Đoạn trích được viết theo thể thơ tự do. Câu 2. Những dòng thơ nói về vẻ đẹp của con trai, con gái là: “Con trai trần trong mặt trời nắng cháy Ép đá xanh thành rượu uống hàng ngày” “Con gái đẹp trong sương giá đông sang Tước vỏ cây thêu áo đẹp năm tháng.” Câu 3. Biện pháp tu từ: điệp từ kết hợp với phóng đại (liệt kê) ở các cụm từ “gọi gió, gọi mưa, gọi nắng”, “chặn suối, ngăn sông, bắt nước ngược dòng”. Tác dụng: làm nổi bật sức mạnh, trí tuệ và ý chí chinh phục thiên nhiên của con người; qua đó ca ngợi tinh thần lao động sáng tạo, kiên cường và khả năng thích ứng bền bỉ của dân tộc Pa Dí trước điều kiện tự nhiên khắc nghiệt. Câu 4. Qua đoạn trích, tác giả thể hiện niềm tự hào sâu sắc, tình yêu tha thiết đối với dân tộc mình; đồng thời bày tỏ sự trân trọng, ngợi ca sức lao động, bản lĩnh, vẻ đẹp con người và cuộc sống ấm no được tạo dựng từ bao gian khổ. Câu 5. Đoạn trích gợi cho bản thân bài học về lòng tự hào dân tộc, ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa và tinh thần chăm chỉ, kiên cường trong lao động. Mỗi người cần biết trân trọng cội nguồn, vượt khó bằng ý chí và nỗ lực để góp phần xây dựng cuộc sống tốt đẹp hơn.

Câu 1. Trong đoạn trích Cây hai ngàn lá, Pờ Sảo Mìn đã khắc họa một cách xúc động vẻ đẹp của con người Pa Dí – một vẻ đẹp vừa bình dị vừa lớn lao. Trước hết, đó là vẻ đẹp của sức lao động bền bỉ, dẻo dai trước thiên nhiên khắc nghiệt. Những chàng trai Pa Dí hiện lên “trần trong mặt trời nắng cháy”, dồn hết sức lực “ép đá xanh thành rượu uống hàng ngày”, gợi nên hình ảnh con người gan góc, mạnh mẽ, không khuất phục trước gian khó. Bên cạnh đó, vẻ đẹp của người con gái Pa Dí lại mang nét dịu dàng, khéo léo mà bền bỉ: “tước vỏ cây thêu áo đẹp năm tháng”, âm thầm dệt nên sự ấm no, bền vững cho cộng đồng. Con người Pa Dí còn hiện lên với trí tuệ và ý chí chinh phục thiên nhiên, “gọi gió, gọi mưa”, “chặn suối, ngăn sông”, biến thiên nhiên thành nguồn sống. Qua đó, tác giả thể hiện niềm tự hào sâu sắc về dân tộc mình – một cộng đồng tuy nhỏ bé về số lượng nhưng giàu sức sống, giàu bản lĩnh và giàu khát vọng hạnh phúc. Câu 2. Trong xã hội hiện đại không ngừng vận động, tinh thần dám đổi mới của thế hệ trẻ đang trở thành một động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển. Dám đổi mới trước hết là dám nghĩ khác, làm khác, không chấp nhận lối mòn cũ kỹ. Nhiều bạn trẻ ngày nay mạnh dạn khởi nghiệp, ứng dụng khoa học – công nghệ, sáng tạo trong học tập và lao động, góp phần tạo ra những giá trị mới cho bản thân và xã hội. Tinh thần đổi mới ấy thể hiện khát vọng vươn lên, mong muốn khẳng định mình và đóng góp cho cộng đồng. Tuy nhiên, đổi mới không đồng nghĩa với chạy theo cái mới một cách mù quáng. Nếu thiếu nền tảng tri thức, thiếu bản lĩnh và trách nhiệm, sự đổi mới dễ trở thành lệch chuẩn, gây hệ lụy tiêu cực. Vì vậy, tinh thần dám đổi mới cần đi đôi với ý thức học hỏi, kế thừa những giá trị tốt đẹp của truyền thống và tuân thủ chuẩn mực đạo đức. Có thể nói, khi biết đổi mới đúng hướng, thế hệ trẻ sẽ trở thành lực lượng tiên phong, góp phần xây dựng một xã hội năng động, sáng tạo và phát triển bền vững.

Câu 1. Đoạn trích được viết theo thể thơ tự do. Câu 2. Những dòng thơ nói về vẻ đẹp của con trai, con gái là: “Con trai trần trong mặt trời nắng cháy Ép đá xanh thành rượu uống hàng ngày” “Con gái đẹp trong sương giá đông sang Tước vỏ cây thêu áo đẹp năm tháng.” Câu 3. Biện pháp tu từ: điệp từ kết hợp với phóng đại (liệt kê) ở các cụm từ “gọi gió, gọi mưa, gọi nắng”, “chặn suối, ngăn sông, bắt nước ngược dòng”. Tác dụng: làm nổi bật sức mạnh, trí tuệ và ý chí chinh phục thiên nhiên của con người; qua đó ca ngợi tinh thần lao động sáng tạo, kiên cường và khả năng thích ứng bền bỉ của dân tộc Pa Dí trước điều kiện tự nhiên khắc nghiệt. Câu 4. Qua đoạn trích, tác giả thể hiện niềm tự hào sâu sắc, tình yêu tha thiết đối với dân tộc mình; đồng thời bày tỏ sự trân trọng, ngợi ca sức lao động, bản lĩnh, vẻ đẹp con người và cuộc sống ấm no được tạo dựng từ bao gian khổ. Câu 5. Đoạn trích gợi cho bản thân bài học về lòng tự hào dân tộc, ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa và tinh thần chăm chỉ, kiên cường trong lao động. Mỗi người cần biết trân trọng cội nguồn, vượt khó bằng ý chí và nỗ lực để góp phần xây dựng cuộc sống tốt đẹp hơn.

Câu 1. Đoạn thơ Phía sau làng của Trương Trọng Nghĩa gợi lên một nỗi buồn sâu lắng về sự đổi thay của làng quê trong dòng chảy đời sống hiện đại. Hình ảnh “tôi đi về phía tuổi thơ” mở ra hành trình trở về quá khứ, nơi từng in dấu những kỉ niệm trong trẻo, thân thương. Nhưng tuổi thơ ấy nay chỉ còn là hoài niệm, bởi “những đứa bạn đã rời làng kiếm sống”, bởi đất đai không còn nuôi nổi “sức trai cày ruộng”. Hiện thực mưu sinh khắc nghiệt khiến mồ hôi người nông dân “chẳng hóa thành bát cơm no”, tạo nên nỗi xót xa âm thầm. Không chỉ cảnh vật đổi thay mà những giá trị văn hóa truyền thống cũng phai nhạt: dân ca không còn vang lên, tóc dài thiếu nữ chỉ còn trong ký ức. Hình ảnh “cánh đồng làng giờ nhà cửa chen chúc mọc” và “lũy tre ngày xưa” không còn nữa đã khắc họa rõ nét sự lấn át của đô thị hóa. Với giọng thơ trầm buồn, ngôn ngữ mộc mạc mà giàu sức gợi, đoạn thơ thể hiện nỗi tiếc nuối, day dứt trước sự mất mát của làng quê, đồng thời gửi gắm tình yêu sâu nặng của tác giả đối với cội nguồn. Câu 2. Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, mạng xã hội đã trở thành một phần không thể thiếu đối với nhiều người. Chỉ với một chiếc điện thoại thông minh, con người có thể kết nối, chia sẻ và tiếp cận thông tin một cách nhanh chóng. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích to lớn, mạng xã hội cũng đặt ra không ít vấn đề đáng suy ngẫm. Trước hết, không thể phủ nhận vai trò tích cực của mạng xã hội. Đây là không gian giúp con người xóa nhòa khoảng cách địa lí, gắn kết bạn bè, người thân và cộng đồng. Mạng xã hội còn là kênh thông tin phong phú, hỗ trợ học tập, làm việc, kinh doanh và lan tỏa nhiều giá trị nhân văn. Nhiều chiến dịch thiện nguyện, hoạt động xã hội ý nghĩa đã được kêu gọi và thực hiện hiệu quả nhờ sức lan tỏa mạnh mẽ của các nền tảng trực tuyến. Đối với giới trẻ, mạng xã hội còn là nơi thể hiện bản thân, sáng tạo và khẳng định tiếng nói cá nhân. Tuy nhiên, mặt trái của mạng xã hội cũng rất đáng lo ngại. Việc lạm dụng mạng xã hội dễ khiến con người xa rời đời sống thực, thu hẹp các mối quan hệ trực tiếp. Không ít người sống “ảo”, chạy theo lượt thích, lượt chia sẻ mà đánh mất giá trị chân thật của bản thân. Bên cạnh đó, mạng xã hội còn là môi trường dễ phát tán tin giả, bạo lực ngôn từ, xâm phạm quyền riêng tư, gây ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lí và nhận thức, đặc biệt là ở người trẻ. Nhiều người vì thiếu kiểm soát đã trở nên lệ thuộc, lãng phí thời gian, thậm chí đánh đổi sức khỏe tinh thần. Trước thực tế ấy, mỗi cá nhân cần có thái độ tỉnh táo và trách nhiệm khi sử dụng mạng xã hội. Mạng xã hội chỉ thực sự có ý nghĩa khi con người biết làm chủ nó, sử dụng như một công cụ phục vụ cho học tập, công việc và kết nối nhân văn, chứ không để nó chi phối cuộc sống. Gia đình, nhà trường và xã hội cũng cần định hướng, giáo dục kĩ năng sử dụng mạng xã hội an toàn, văn minh. Tóm lại, mạng xã hội là sản phẩm tất yếu của thời đại số, mang trong mình cả cơ hội lẫn thách thức. Vấn đề không nằm ở bản thân mạng xã hội mà ở cách con người lựa chọn và sử dụng nó. Khi biết cân bằng giữa thế giới ảo và đời sống thực, mạng xã hội sẽ trở thành người bạn đồng hành tích cực trong cuộc sống hiện đại.


Câu 1. Văn bản được viết theo thể thơ tự do. Câu 2. Hạnh phúc được miêu tả qua các tính từ (và cụm tính chất): xanh, thơm, dịu dàng, vô tư. Câu 3. Đoạn thơ cho thấy hạnh phúc có thể rất giản dị, âm thầm như một trái quả “thơm trong im lặng”. Hạnh phúc không cần phô trương, ồn ào mà toả ra sự dịu dàng, bền bỉ từ bên trong, chỉ cần cảm nhận là đủ. Câu 4. Biện pháp tu từ so sánh (hạnh phúc như sông) làm nổi bật vẻ đẹp tự nhiên, thanh thản của hạnh phúc: hạnh phúc đến và trôi đi nhẹ nhàng, vô tư, không toan tính, không bận tâm “đầy vơi”. Qua đó, hình ảnh trở nên gợi cảm, giàu ý nghĩa triết lí. Câu 5. Tác giả quan niệm hạnh phúc là điều bình dị, gần gũi, có mặt trong những khoảnh khắc đời thường; hạnh phúc không phụ thuộc vào sự hơn – kém hay đủ – thiếu mà nằm ở thái độ sống an nhiên, biết cảm nhận và trân trọng những gì mình đang có.