BÙI QUANG THỊNH
Giới thiệu về bản thân
Sự kiện buộc Mỹ phải tuyên bố “phi Mỹ hoá” chiến tranh xâm lược Việt Nam là Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968.
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân diễn ra vào đêm 30 rạng sáng 31/1/1968 (đêm Giao thừa Tết Mậu Thân), khi lực lượng cách mạng đồng loạt tiến công vào hầu hết các đô thị, căn cứ quân sự lớn của Mỹ và chính quyền Sài Gòn trên toàn miền Nam. Đặc biệt, các cuộc tiến công vào Sài Gòn, Huế và Tòa Đại sứ Mỹ đã gây chấn động dư luận Hoa Kỳ và thế giới.
Mặc dù ta gặp nhiều tổn thất, nhưng cuộc Tổng tiến công đã làm phá sản chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ, làm lung lay ý chí xâm lược của chính quyền Mỹ, khiến dư luận Mỹ phản đối chiến tranh ngày càng mạnh mẽ. Tháng 3/1968, Tổng thống Mỹ tuyên bố hạn chế ném bom miền Bắc và chấp nhận đàm phán với Việt Nam tại Paris, đồng thời từng bước thực hiện “phi Mỹ hoá” chiến tranh (giảm dần và rút quân Mỹ khỏi miền Nam Việt Nam).
Sự kiện buộc Mỹ phải tuyên bố “phi Mỹ hoá” chiến tranh xâm lược Việt Nam là Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968.
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân diễn ra vào đêm 30 rạng sáng 31/1/1968 (đêm Giao thừa Tết Mậu Thân), khi lực lượng cách mạng đồng loạt tiến công vào hầu hết các đô thị, căn cứ quân sự lớn của Mỹ và chính quyền Sài Gòn trên toàn miền Nam. Đặc biệt, các cuộc tiến công vào Sài Gòn, Huế và Tòa Đại sứ Mỹ đã gây chấn động dư luận Hoa Kỳ và thế giới.
Mặc dù ta gặp nhiều tổn thất, nhưng cuộc Tổng tiến công đã làm phá sản chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ, làm lung lay ý chí xâm lược của chính quyền Mỹ, khiến dư luận Mỹ phản đối chiến tranh ngày càng mạnh mẽ. Tháng 3/1968, Tổng thống Mỹ tuyên bố hạn chế ném bom miền Bắc và chấp nhận đàm phán với Việt Nam tại Paris, đồng thời từng bước thực hiện “phi Mỹ hoá” chiến tranh (giảm dần và rút quân Mỹ khỏi miền Nam Việt Nam).
Về chính trị:
Việt Nam giữ vững ổn định chính trị – xã hội, bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Hệ thống chính trị từng bước được kiện toàn, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước được nâng cao. Khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố; dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy; công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được đẩy mạnh, góp phần tăng cường niềm tin của nhân dân.
Về an ninh – quốc phòng:
Việt Nam xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân vững mạnh; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Lực lượng vũ trang được xây dựng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; chủ động phòng ngừa, đấu tranh làm thất bại âm mưu chống phá của các thế lực thù địch. Đồng thời, Việt Nam tích cực mở rộng hợp tác quốc phòng – an ninh với các nước, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.
Về chính trị:
Việt Nam giữ vững ổn định chính trị – xã hội, bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Hệ thống chính trị từng bước được kiện toàn, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước được nâng cao. Khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố; dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy; công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được đẩy mạnh, góp phần tăng cường niềm tin của nhân dân.
Về an ninh – quốc phòng:
Việt Nam xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân vững mạnh; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Lực lượng vũ trang được xây dựng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; chủ động phòng ngừa, đấu tranh làm thất bại âm mưu chống phá của các thế lực thù địch. Đồng thời, Việt Nam tích cực mở rộng hợp tác quốc phòng – an ninh với các nước, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.
a) Ngày 5/6/1911, Hồ Chí Minh (khi đó là Nguyễn Tất Thành) rời bến Nhà Rồng (Sài Gòn) sang Pháp với khát vọng tìm con đường cứu nước mới cho dân tộc. Từ năm 1911 đến 1917, Người làm nhiều nghề và đi qua nhiều nước ở châu Phi, châu Mỹ, châu Âu như Pháp, Anh, Hoa Kỳ…, vừa lao động kiếm sống vừa quan sát, tìm hiểu bản chất của chủ nghĩa thực dân và đời sống nhân dân lao động ở các nước tư bản cũng như thuộc địa. Năm 1917, Người trở lại Pháp, tham gia phong trào công nhân và phong trào yêu nước của người Việt tại đây, từng bước tiếp cận với chủ nghĩa Mác – Lênin, chuẩn bị về tư tưởng cho bước ngoặt trong con đường cứu nước.
b) Nguyễn Ái Quốc lựa chọn con đường cách mạng vô sản vì các phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến và tư sản trước đó đều thất bại, không giải quyết được yêu cầu độc lập dân tộc. Đặc biệt, sau khi đọc “Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của Vladimir Lenin (1920), Người nhận ra con đường giải phóng dân tộc đúng đắn là con đường cách mạng vô sản. Theo đó, cách mạng phải do một đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, đồng thời kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại nhằm giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp, đem lại tự do, hạnh phúc thực sự cho nhân dân.
a) Ngày 5/6/1911, Hồ Chí Minh (khi đó là Nguyễn Tất Thành) rời bến Nhà Rồng (Sài Gòn) sang Pháp với khát vọng tìm con đường cứu nước mới cho dân tộc. Từ năm 1911 đến 1917, Người làm nhiều nghề và đi qua nhiều nước ở châu Phi, châu Mỹ, châu Âu như Pháp, Anh, Hoa Kỳ…, vừa lao động kiếm sống vừa quan sát, tìm hiểu bản chất của chủ nghĩa thực dân và đời sống nhân dân lao động ở các nước tư bản cũng như thuộc địa. Năm 1917, Người trở lại Pháp, tham gia phong trào công nhân và phong trào yêu nước của người Việt tại đây, từng bước tiếp cận với chủ nghĩa Mác – Lênin, chuẩn bị về tư tưởng cho bước ngoặt trong con đường cứu nước.
b) Nguyễn Ái Quốc lựa chọn con đường cách mạng vô sản vì các phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến và tư sản trước đó đều thất bại, không giải quyết được yêu cầu độc lập dân tộc. Đặc biệt, sau khi đọc “Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của Vladimir Lenin (1920), Người nhận ra con đường giải phóng dân tộc đúng đắn là con đường cách mạng vô sản. Theo đó, cách mạng phải do một đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, đồng thời kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại nhằm giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp, đem lại tự do, hạnh phúc thực sự cho nhân dân.