Trịnh Hoàng Linh
Giới thiệu về bản thân
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc tập - Tự do - Hạnh phúc
BẢN TƯỜNG TRÌNH
Kính gửi cô giáo chủ nhiệm
Tên em là : Trịnh Hoàng Linh
Là học sinh lớp 7A
Em viết bản tường trình này để trình bày lại sự việc đánh nhau mà em đã chứng kiến vào lúc ra chơi
gồm bạn A và bạn B . Trong lúc ra chơi các bạn đã đánh nhau và em nhìn thấy , em cũng không rõ lý do vì sao hai bạn đánh nhau chỉ nghe các bạn khác nói do bất đồng quan điểm và tính dễ nổi nóng không thể kiềm chế . Sự việc diễn ra khoảng 2 phút vì em và các bạn ngăn kịp và báo cáo cho thầy cô
Em cam đoan những điều em thấy là đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung ttuongwf trình này .
Người tường trịnh
Linh
Trịnh Hoàng Linh
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc tập - Tự do - Hạnh phúc
BẢN TƯỜNG TRÌNH
Kính gửi cô giáo chủ nhiệm
Tên em là : Trịnh Hoàng Linh
Là học sinh lớp 7A
Em viết bản tường trình này để trình bày lại sự việc đánh nhau mà em đã chứng kiến vào lúc ra chơi
gồm bạn A và bạn B . Trong lúc ra chơi các bạn đã đánh nhau và em nhìn thấy , em cũng không rõ lý do vì sao hai bạn đánh nhau chỉ nghe các bạn khác nói do bất đồng quan điểm và tính dễ nổi nóng không thể kiềm chế . Sự việc diễn ra khoảng 2 phút vì em và các bạn ngăn kịp và báo cáo cho thầy cô
Em cam đoan những điều em thấy là đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung ttuongwf trình này .
Người tường trịnh
Linh
Trịnh Hoàng Linh
Văn bản giới thiệu sự đa dạng của các phương tiện vận chuyển truyền thống của dân tộc thiểu số Việt Nam, phù hợp với địa hình đặc trưng. Ở vùng núi phía Bắc, người dân chủ yếu đi bộ, gùi trên lưng, dùng ngựa thồ hoặc thuyền bè. Tại Tây Nguyên, voi và ngựa được sử dụng phổ biến để thồ hàng. Các phương tiện đều tận dụng nguyên liệu tự nhiên như gỗ, tre, mây, nứa, phản ánh trí tuệ và sự thích nghi cao độ với môi trường sống tự nhiên của cư dân bản địa. Tóm tắt 10 - 12 dòng
Văn bản "Phương tiện vận chuyển của các dân tộc thiểu số Việt Nam ngày xưa" khắc họa bức tranh phong phú về cách thức di chuyển và vận chuyển hàng hóa của cư dân miền núi xưa. Khác biệt với vùng xuôi, các dân tộc thiểu số dựa vào sức người và động vật là chính. Người dân tộc thiểu số phía Bắc thường dùng gùi, ngựa thồ và thuyền, bè trên sông suối. Trong khi đó, dân cư Tây Nguyên tận dụng sức voi, ngựa để vận chuyển lâm thổ sản. Các phương tiện đều được chế tạo từ nguyên liệu tự nhiên tại chỗ như mây, tre, nứa, gỗ. Dù đơn sơ, nhưng các loại phương tiện này đáp ứng tốt nhu cầu đi lại, trao đổi hàng hóa trên địa hình hiểm trở, sông suối dày đặc. Nội dung văn bản cũng làm nổi bật sự sáng tạo, thích nghi và nét văn hóa đặc sắc trong lao động sản xuất của các dân tộc Việt Nam xưa.
"Đối với tôi, môn Toán từng là nỗi ám ảnh với những con số và công thức khô khan cho đến khi tôi được học cô không chỉ dạy kiến thức, mà còn biến giờ Toán thành những câu chuyện logic thú vị. Dáng người cao gầy hiền nhanh nhẹn cùng nụ cười ấm áp của cô trên bục giảng luôn tạo cảm giác gần gũi. Nhớ những lần tôi loay hoay với bài toán khó, cô vẫn kiên nhẫn giảng lại từng bước, ánh mắt tin tưởng ấy là động lực lớn nhất giúp tôi không bỏ cuộc. Sự tận tâm của cô đã thắp lên trong tôi tình yêu với các con số. Em xin gửi lời tri ân sâu sắc nhất tới cô người lái đò thầm lặng truyền lửa tri thức."
ong những câu chuyện về chiến tranh, tôi luôn ám ảnh và cảm phục hình ảnh dì Bảy người phụ nữ với tấm lòng thủy chung son sắt. Dì Bảy chỉ có một tháng ngắn ngủi làm vợ, một tháng trăng mật chưa kịp trọn vẹn, dượng đã phải khoác ba lô đi tập kết. Thế rồi, dì Bảy cứ lặng lẽ đợi. Hai mươi năm ròng rã, dì không đi bước nữa, cũng không một câu than vãn, mà cứ âm thầm làm tròn nghĩa vụ của một người vợ, một người con dâu hiếu thảo. Hình ảnh dì ngồi đợi trước hiên nhà, đôi mắt hướng về phía con đường xa lạ, trở thành biểu tượng của sự kiên cường và lòng kiên nhẫn. Sự hy sinh của dì thật thầm lặng, nhẹ nhàng như hơi thở nhưng lại mang sức nặng của một tình yêu vĩ đại. Dì hy sinh tuổi trẻ, hạnh phúc riêng tư để đổi lấy niềm tin vào ngày đoàn tụ. Sự kiên trinh của dì Bảy khiến tôi vô cùng xúc động. Dì là minh chứng cho nét đẹp tâm hồn của người phụ nữ Việt Nam: vững vàng, thủy chung và giàu đức hy sinh.
Trong tâm khảm của mỗi người dân Việt Nam, hình ảnh Hồ Chí Minh luôn hiện lên như một tượng đài bất tử, một trái tim vĩ đại chứa đựng tình yêu thương bao la dành cho đồng bào. Nhắc về Bác, lòng tôi lại bồi hồi, xúc động khi nhớ đến sự kiện lịch sử ngày 5/6/1911 – ngày mà một chàng thanh niên 21 tuổi, với đôi bàn tay trắng, đã rời bến cảng Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước, khởi đầu cho một hành trình thay đổi vận mệnh của cả một dân tộc .Quê hương lúc bấy giờ đang chìm trong đêm dài nô lệ. Những phong trào yêu nước theo các khuynh hướng khác nhau lần lượt thất bại, khiến cho con đường cứu nước trở nên bế tắc. Sinh ra trong cảnh nước mất nhà tan, chứng kiến sự tàn bạo của thực dân Pháp, chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành đã không khỏi đau lòng. Khát vọng cháy bỏng giành lại độc lập cho Tổ quốc đã thôi thúc Người không đi theo vết xe đổ của các bậc tiền bối, mà chọn cho mình một hướng đi hoàn toàn mới: sang phương Tây, đến tận sào huyệt kẻ thù để tìm hiểu, học hỏi. Hãy tưởng tượng, một thanh niên trẻ tuổi, ra đi không có người tiễn đưa, không có kinh phí trong tay, chỉ có một ý chí sắt đá và một tấm lòng yêu nước nồng nàn. Đó không phải là một chuyến đi phiêu lưu, mà là một sự hy sinh cao cả, một cuộc dấn thân đầy mạo hiểm vì sự sống còn của dân tộc. Người làm đủ mọi nghề, từ phụ bếp, cào tuyết đến đốt lò, làm vườn… để sống và hoạt động, hòa mình vào cuộc sống của những người lao động nghèo khổ trên khắp thế giới. Sự ra đi ấy, hành trình 30 năm bôn ba khắp năm châu bốn biển, là một thiên anh hùng ca vĩ đại. Nó thể hiện tầm nhìn chiến lược, sự dũng cảm và quyết tâm sắt đá của một bậc vĩ nhân. Hình ảnh Bác Hồ người thanh niên Văn Ba đứng trên boong tàu, nhìn về phía chân trời xa, không chỉ là hình ảnh của quá khứ, mà là hình ảnh của hy vọng, của ánh sáng đang dần đến với một dân tộc đang chịu nhiều đau thương.