Lương Ánh Dương
Giới thiệu về bản thân
Trong cảnh chia tay, Héc-to thể hiện vẻ đẹp của người anh hùng yêu nước, can trường, coi trọng danh dự và trách nhiệm với đất nước, dù lòng nặng trĩu tình cảm gia đình. Ngược lại, Ăng-đrô-mác là hình ảnh người phụ nữ bé nhỏ, yếu mềm, với nỗi lo sợ mất chồng, nhưng vẫn thể hiện lòng yêu chồng, thương con và sự hi sinh cao cả. Sự đối lập này khắc họa sâu sắc tình thế giằng co giữa tình yêu gia đình và nghĩa vụ đất nước của người anh hùng.
Những không gian trên được miêu tả bằng những tính từ lớn lao, hùng vĩ, đồ sộ:
+ dãy phố thành Tơ-roa xây dựng khang trang
+ phố xá thành Tơ-roa rộng lớn
+ thành Te-bơ cổng lớn tường cao, đô thị đẹp đẽ
+ xứ Pla-cốt đại ngàn
→ Thể hiện đặc trưng thể loại sử thi: Không gian sử thi kì vĩ, cao rộng, mang tính cộng đồng, có thể bao quát cả thế giới thần linh và con người.
B.thiếu phép liên kết giữa câu 2 và câu 3
A.thiếu sự liên kết lôgic giữa các câu văn
C.Thêm liên kết ( phép nối ) giữa câu 2 và câu 3.
a. Vì nó k phù hợp khiến đoạn văn k liên kết chặt chẽ với nhau
b. Lỗi mạch lạc : phép lặp ch phù hợp
a.vì nó đảm bảo tính mạch lạc và tính liên kết
b.mạch lạc: 4 câu đều nói về 1 chủ đề chung về tấm lòng đồng cảm
c. Liên kết: phép nối : chỉ vì , chỉ có
d.từ " người " , " đồng cảm " , " chỉ"
Văn bản “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” có cách lập luận chặt chẽ, mạch lạc, giàu thuyết phục. Mở đầu, tác giả đưa ra khái niệm “hiền tài”, khẳng định hiền tài có ý nghĩa quan trọng đối với vận mệnh dân tộc thông qua cách trọng dụng, đối đãi của những đấng thánh đế minh vương và cuối cùng là nêu lên tác dụng to lớn của việc được khắc tên lên bia tiến sĩ đối với người đương thời và các thế hệ sau. Các luận điểm có mối liên hệ chặt chẽ, luận điểm trước là tiền đề để luận điểm sau phát triển.
Quan điểm “chữ bầu lên nhà thơ” được triển khai theo hướng nhấn mạnh vai trò quyết định của chữ nghĩa trong việc tạo nên giá trị người làm thơ. Tác giả xem từng chữ như những “hạt giống” được nhà thơ gieo trên “cánh đồng giấy”, và chính chất lượng của chữ – sự tinh luyện, sáng tạo, giàu sức gợi – mới làm nên tầm vóc của nhà thơ. Nhà thơ không được “tự phong”, mà phải được chữ nghĩa trong tác phẩm chứng thực tài năng. Nói cách khác, chữ là thước đo, là tiêu chuẩn lựa chọn và khẳng định tên tuổi người viết thơ.
Người ta hay nói đến công phu người viết tiểu thuyết. Tôn-xtôi đã chữa đi chữa lại nhiều lần cuốn tiểu thuyết đồ sộ Chiến tranh và hoà bình. Phlô-be cân nhắc chữ trên cân tiểu li như một thầy lang bốc những vị thuốc công phạt có thể chết người.
Chúng ta cần học những nhà thơ như Lý Bạch, Xa-a-đi, Gớt, Ta-go, ở vào buổi chiều tóc bạc vẫn thu hoạch những mùa thơ dậy thì
Như thế có nghĩa mặc dầu là một thiên tài đồ sộ đã không ít lần Huy-gô không được tái cử vào cương vị nhà thơ qua cuộc bỏ phiếu của chữ.
Ý kiến trên muốn nói rằng: làm thơ là một lao động vất vả, nghiêm túc. Nhà thơ giống như người nông dân “một nắng hai sương”, phải cặm cụi, kiên trì trên “cánh đồng giấy” để tìm từng chữ hay. Mỗi câu thơ đẹp đều là kết quả của mồ hôi, công sức và sự trau chuốt, chứ không chỉ do cảm hứng nhất thời.
Tôi không mê những nhà thơ thần đồng. Tôi ưa những nhà thơ một nắng hai sương, lầm lũi, lực điền trên cánh đồng giấy, đổi bát mồ hỡi lấy từng hạt chữ.
Tôi rất ghét cái định kiến quái gở, không biết xuất hiện từ bao giờ: các nhà thơ Việt Nam thường chín sớm nên cũng tàn lụi sớm.
Đó là những nhà thơ chủ yếu sống bằng vốn trời cho.
Có lẽ vì vậy mà tôi rất ủng hộ lời phát biểu của một nhà thơ Pháp, gốc Do Thái Ét-mông Gia-bét: Chữ bầu lên nhà thơ.
Gia-bét muốn nói rằng không có chức nhà thơ suốt đời. Mỗi lần làm một bài thơ, nhà thơ lại phải ứng cử trong một cuộc bầu khắc nghiệt của cử tri chữ.