Vũ Thị Kim Anh

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Vũ Thị Kim Anh
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)
Trình tự sắp xếp các luận điểm trong bài viết là theo bố cục ba phần: Mở bài, Thân bài, và Kết bài Bài viết "Điện thoại thông minh và người dùng, ai là ông chủ?" có trình tự sắp xếp các luận điểm như sau: 
  • Mở bài: Nêu vấn đề, đặt câu hỏi về mối quan hệ giữa điện thoại thông minh và người dùng. 
  • Thân bài: Triển khai các luận điểm chính, bao gồm: 
    • Công nhận những lợi ích to lớn của điện thoại thông minh trong cuộc sống. 
    • Phân tích thực trạng nhiều người đang bị điện thoại chi phối, trở thành "nô lệ" của công nghệ. 
    • Đưa ra các lí lẽ, dẫn chứng cụ thể về việc lạm dụng điện thoại làm mất kết nối với thế giới thực. 
  • Kết bài: Khẳng định lại quan điểm, đưa ra lời khuyên rằng điện thoại chỉ nên là công cụ phục vụ con người, không nên để nó chi phối mình. 
Trình tự sắp xếp này được nhận xét là logic, chặt chẽ và có tính thuyết phục cao, đi từ việc nêu vấn đề, phân tích các khía cạnh, và cuối cùng là đưa ra kết luận và lời khuyên, giúp người đọc dễ dàng nắm bắt và đồng tình với quan điểm của tác giả. 

Vấn đề chính của văn bản "Điện thoại thông minh và người dùng, ai là ông chủ?" là thảo luận về việc con người đang sử dụng điện thoại thông minh một cách quá mức, dẫn đến nguy cơ bị thiết bị công nghệ này chi phối ngược lại cuộc sống của chính mình. Văn bản đặt ra câu hỏi liệu người dùng có thực sự là chủ nhân của công nghệ hay chỉ là nô lệ của nó, và làm thế nào để duy trì vai trò chủ thể tích cực trong cuộc sống thực thay vì đắm chìm trong thế giới mạng. 

a) Dấu hiệu nổi bật: câu văn thứ hai trong đoạn được triển khai không đúng với chủ đề chung của đoạn văn.

b) Dấu hiệu của lỗi liên kết:

- Phép nối được sử dụng để liên kết giữa câu một và câu hai chưa phù hợp.

- Giữa câu hai và câu ba chưa có phép liên kết hình thức.

c) Cách sửa:

- Thay thế phép nối “Mặc dù … nên…” giữa câu một với câu hai thành “Vì … nên…”, trở thành câu: 

“Vì không tìm thấy được ích lợi của đọc sách trong việc bồi dưỡng tâm hồn, phát huy trí tưởng tượng và rèn luyện cách suy nghĩ nên hầu như mọi người đã vứt bỏ thói quen đọc sách.”

- Có thể sửa câu thứ ba thành “Tuy chiếc điện thoại thông minh rất tiện lợi trong việc đáp ứng nhiều nhu cầu của con người trong cuộc sống hiện đại, nhưng nó lại khó giúp ta tìm được sự yên tĩnh, lắng sâu trong tâm hồn”.

a) Lý do đoạn văn vẫn rời rạc: phép liên kết được sử dụng chưa đúng cách, chưa phù hợp, các câu văn chưa có sự liên kết khiến đoạn văn bị rời rạc.

b) Lỗi liên kết: Đoạn văn sử dụng phép liên kết hình thức (phép lặp) chưa phù hợp, chưa liên kết được các câu trong đoạn.

a) Lý do đoạn (1) được coi là đoạn văn:

- Về hình thức:

  + Đoạn văn trên được tạo thành bằng 4 câu văn được liên kết với nhau bằng phép liên kết hình thức: phép lặp.

  + Đoạn văn trên được viết giữa hai dấu chấm xuống dòng, chữ cái đầu đoạn được viết lùi vào một chữ và viết hoa.

- Về nội dung: đoạn văn có nội dung viết về lòng đồng cảm của con người, thuộc văn bảnYêu và đồng cảm.

b) Các câu trong đoạn văn có sự mạch lạc với nhau, cùng nói về tấm lòng đồng cảm của con người, trong câu đều nhắc đến các từ “tấm lòng” hay “lòng đồng cảm”.

c) Dấu hiệu nhận thấy sự mạch lạc giữa các đoạn:

- Đoạn văn trên và các đoạn văn khác đều hướng đến làm nổi bật chủ đề của văn bản Yêu và đồng cảm.

- Đoạn văn trên là một lý lẽ nằm trong đoạn (5) của văn bản, kết lại vấn đề về tấm lòng đồng cảm của trẻ em và con người.

d) Những từ ngữ được lặp lại nhiều lần: con người/người, tấm lòng, lòng đồng cảm, chỉ có/chỉ vì.

- Tác dụng của việc lặp lại các từ ngữ trên là để tạo sự liên kết chặt chẽ giữa các câu văn, đoạn văn có sự mạch lạc, logic về mặt hình thức.

-Văn bản "Hiền tài là nguyên khí của quốc gia" có cách lập luận chặt chẽ, mạch lạc và giàu sức thuyết phục; các câu, đoạn văn được liên kết logic với nhau:  +Về mạch lạc, các đoạn văn trong văn bản đều làm nổi bật luận đề chung, được sắp xếp theo trình tự hợp lí, logic. Tác giả mở đầu bằng việc đưa ra khái niệm "hiền tài" và khẳng định tầm quan trọng của họ đối với vận mệnh dân tộc.  +Về liên kết, các câu trong đoạn văn đều hướng về chủ đề chính, được liên kết với nhau bằng các phép lặp, phép thế, phép nối... một cách chặt chẽ. 

-Tác giả triển khai quan điểm "chữ bầu lên nhà thơ" thông qua việc khẳng định nhà thơ chân chính là người lao động cần cù, sáng tạo với ngôn ngữ, chứ không phải là những người dựa vào cảm xúc bộc phát hay tài năng trời cho.


-Tác giả đưa ra những lí lẽ về sự lao động gian khổ của nhà thơ đối với chữ, sử dụng dẫn chứng như câu nói của Ét-mông Gia-bét và dẫn chứng gián tiếp qua việc nhắc đến Victor Hugo

-Nhận xét của em là đồng ý với quan điểm của tác giả. Tác giả đã đưa ra những lí lẽ và dẫn chứng sắc sảo, thuyết phục người đọc về tầm quan trọng của sự lao động miệt mài, không ngừng nghỉ của nhà thơ trong việc chinh phục và làm giàu vốn chữ của mình.

-Tôi hiểu ý kiến "nhà thơ một nắng hai sương, lầm lũi, lực điền trên cánh đồng giấy, đổi bát mồ hôi lấy từng hạt chữ" là: diễn tả quá trình sáng tạo văn chương gian khổ của một nhà thơ. Để tạo nên những tác phẩm văn chương có giá trị, người nhà thơ phải trải qua một quá trình lao động nghệ thuật đầy gian khổ, gian truân và kiên trì, giống như người nông dân vất vả trên đồng ruộng.

-Tác giả "rất ghét" hay "không mê" những: định kiến quái gở, không biết xuất hiện từ bao giờ: các nhà thơ Việt Nam thường chín sớm nên cũng tàn lụi sớm. Không mê những nhà thơ thần đồng.

-Ngược lại ông "ưa" những nhà thơ một nắng hai sương, lầm lũi, lực điền trên cánh đồng giấy, đổi bát mồ hôi lấy từng hạt chữ.