Vũ Ngọc Hiếu
Giới thiệu về bản thân
Tác giả khẳng định nhà thơ không làm thơ bằng ý trước hết mà bằng chữ.
Trong thơ, chữ không chỉ mang nghĩa từ điển mà còn có:
âm thanh
nhịp điệu
hình ảnh
sức gợi cảm
Giá trị của thơ nằm ở nội lực của chữ, ở cách nhà thơ lao động, lựa chọn và tổ chức chữ trong bài thơ.
2. Phản bác quan niệm coi thơ là sản phẩm của thiên phú
Tác giả bác bỏ quan niệm:
nhà thơ chỉ cần “trời cho”, cảm hứng bộc phát
thơ hay là do may mắn
Khẳng định:
thơ hay là kết quả của lao động chữ kiên trì
làm thơ không phải đánh quả, không có trúng số suốt đời
Những câu thơ kì ngộ là kết tinh của:
rèn luyện lâu dài
ý thức nghề nghiệp nghiêm túc
3. Đề cao công phu lao động nghệ thuật của nhà thơ
Nhà thơ phải:
“một nắng hai sương”
lầm lũi nhặt từng con chữ
Tác giả:
không mê nhà thơ “thần đồng”
đề cao nhà thơ bền bỉ, dấn thân, làm mới chữ
4. Mở rộng quan niệm: mỗi nhà thơ có một con đường riêng
Con đường thơ:
không có đại lộ chung cho tất cả
phụ thuộc vào số phận nghệ thuật của từng người
Nhưng điểm chung bắt buộc:
phải lao động chữ đến tận cùng
làm giàu cho tiếng Việt
5. Nghệ thuật triển khai
Lập luận chặt chẽ
Dẫn chứng phong phú (Đông – Tây)
Giọng văn:
trí tuệ
sắc sảo
giàu chất suy tư nghề nghiệp
a) Lí lẽ
Làm thơ là lao động nghiêm túc, công phu, không phải sự “bốc đồng”, “trời cho” hay may rủi:
Tác giả khẳng định: thơ hay không phải ngẫu hứng tình cờ mà là kết quả của thành tâm, kiên trì, tìm tòi, lao động chữ nghĩa.
Phủ định quan niệm coi thơ như “đánh quả”, trúng một lần là đủ cả đời.
Nhà thơ phải có ý thức trách nhiệm với từng con chữ:
Chữ trong thơ nguy hiểm và quan trọng như “thuốc” – dùng sai có thể gây hại → người làm thơ phải cân nhắc chữ rất nghiêm ngặt.
Phê phán quan niệm tôn sùng thiên phú, coi nhẹ rèn luyện:
Tác giả không đồng tình với việc thần thánh hóa nhà thơ “viết tức khắc”, “bốc đồng”.
Cho rằng những nhà thơ chỉ sống dựa vào “vốn trời cho” thì sớm cạn.
Không có chức vị nhà thơ suốt đời:
Mỗi bài thơ là một lần “ứng cử”, phải chịu sự “bỏ phiếu” nghiêm khắc của chữ nghĩa và thời gian.
b) Dẫn chứng
Tôn-xtôi sửa chữa Chiến tranh và hòa bình nhiều lần → văn chương lớn là kết quả của lao động bền bỉ.
Phlô-be cân chữ như thầy thuốc bốc thuốc → cho thấy sự nghiêm cẩn trong lao động nghệ thuật.
Nhắc đến Trang Tử với quan niệm “vứt thánh bỏ trí”, nhưng tác giả giải thích: muốn “vứt” thì trước hết phải có vốn tri thức.
Dẫn chứng các nhà thơ lớn thế giới (Lý Bạch, Gớt, Ta-go…) cho thấy sức sáng tạo bền bỉ, không phụ thuộc tuổi tác.
Ý kiến của Picasso: “Người ta cần rất nhiều thời gian để trở nên trẻ” → sáng tạo là kết quả của trải nghiệm và lao động lâu dài.
Nhận xét về Vích-to Huy-gô: thiên tài vẫn không đương nhiên giữ được “ngôi vị” nếu chữ không còn sức thuyết phục.
2. Nhận xét
Phần 2 có lập luận chặt chẽ, lí lẽ rõ ràng, giàu tính phản biện.
Dẫn chứng phong phú, xác đáng, lấy từ những tên tuổi lớn của văn học – nghệ thuật thế giới, làm tăng sức thuyết phục.
Giọng văn thẳng thắn, sắc sảo, có lúc gay gắt nhưng thể hiện thái độ nghiêm túc, trách nhiệm với thơ ca.
Qua đó, tác giả khẳng định một quan niệm tiến bộ:
Thơ là kết tinh của lao động chữ nghĩa bền bỉ; chính “chữ” làm nên nhà thơ, chứ không phải danh xưng hay thiên phú đơn thuần.
Đây là một phần tranh luận giàu giá trị lí luận và có ý nghĩa định hướng đúng đắn cho người cầm bút.
Tác giả “rất ghét” / không mê:
Ông không mê những nhà thơ “thần đồng”, những người làm thơ dựa vào “vốn trời cho”, viết theo cảm hứng bột phát, dễ dãi, coi làm thơ như đánh quả, trúng số, thiếu lao động chữ nghiêm túc.
Ngược lại, tác giả “ưa” đối tượng nào:
Ông ưa những nhà thơ lao động chữ bền bỉ, kiên trì, có ý thức rèn luyện, tìm tòi chữ nghĩa, “một nắng hai sương”, dốc công sức, trí tuệ để sáng tạo, coi làm thơ là quá trình khổ luyện nghiêm túc chứ không phải may rủi.