Vũ Hoàng Yến Nhi

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Vũ Hoàng Yến Nhi
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1:
Bài làm

Đoạn trích văn bản "Hai vạn dặm dưới đáy biển" nói về chuyến thám hiểm dưới đáy biển của nhân vật "tôi" và thuyền trưởng Nê-mô. Trong đó em ấn tượng sâu sắc với nhân vật thuyền trưởng Nê-mô bởi lòng dũng cảm, vốn tri thức giàu có về vùng biển sâu. Hình ảnh Nê-mô được khắc họa qua cái nhìn ngưỡng mộ của nhân vật "tôi": "vững bước giữa đống đá ngổn ngang","ông ta rất thông thạo con đường này", "với tôi, Nê-mô giống như một vị thần biển!",...Thuyền trưởng Nê-mô không chỉ là người giữ bí mật của con tàu Nau-ti-lux mà còn là một người dày dặn kinh nghiệm, kiến thức về vùng biển đầy hiểm nguy nơi đây. Với vóc người cao lớn in trên ánh đèn hồng, Nê-mô đã tạo niềm tin cho nhân vật "tôi" trong chuyến thám hiểm kỳ bí này. Sự điềm tĩnh, quyết đoán của ông trên hành trình chinh phục những ngọn núi đá đã cho thấy một ý chí sắt thép, một tâm hồn sáng tạo với những ý nghĩ vượt trội. Qua đó, Nê-mô không chỉ là người dẫn đường cho đoàn thám hiểm mà còn là đại diện cho khát vọng chinh phục những giới hạn của con người trước vũ trụ bao la.

Câu 2:

Bài làm
"Chặng đường nào trải bước trên hoa hồng / Bàn chân cũng thấm đau vì những mũi gai". Những lời bài hát đầy cảm xúc hào hùng ấy trong sáng tác "Đường đến vinh quang" của nhóm nhạc Bức Tường đã khơi gợi trong lòng mỗi người về hành trình đi tới thành công. Để đi tới đỉnh vinh quang, có những người may mắn được gặp nhiều cơ hội thuận lợi, nhiều suôn sẻ trên chuyến xe ấy. Nhưng cũng có những người phải đi qua mũi gai nhọn, những khó khăn gian truân. Hai yếu tố này đều góp phần quan trọng trên bước đường tới thành công, song câu hỏi đặt ra là: "Sự may mắn và nỗ lực của bản thân, yếu tố nào quan trọng hơn trong thành công của con người?". Theo em, em cho rằng nỗ lực của bản thân mới là yếu tố cốt lõi trong thành công mỗi chúng ta.

Đến với ý kiến trên, ta hiểu "may mắn" là những cơ hội, vận may trong cuộc đời, giúp ta vượt qua khó khăn dễ dàng, còn "nỗ lực của bản thân" là sự cố gắng, kiên trì đạt được mục tiêu, xây dựng và tôi luyện phẩm chất tốt đẹp của bản thân. Như vậy ta thấy sự nỗ lực vẫn luôn có giá trị cốt lõi trong quá trình đi tới thành công của mỗi người.

Sự nỗ lực như nguồn nhựa sống nuôi dưỡng ý chí trong ta, giúp mỗi cá nhân vươn tới thành công tuy lặng thầm nhưng lại có ý nghĩa nhất. Sự nỗ lực giúp rèn cho mỗi người tính tự giác, chủ động thực hiện các kế hoạch, hoàn thành tốt nhiệm vụ, trong khi may mắn chỉ là những cơ hội ngẫu nhiên. Nỗ lực còn giúp ta rèn luyện nhân cách tốt, có ý thức tự tôi luyện và cải thiện bản thân cho ngày thêm tốt đẹp. Khi ta nỗ lực là khi ta tin tưởng vào chính bản thân mình, là khi ta giữ được ngọn lửa đam mê trong trái tim và cố gắng bền bỉ đi tới thành công. Sự nỗ lực có thể khiến mỗi chúng ta tốt hơn từng ngày, từng bước đi vững vàng trên con đường mình chọn. Trong khi may mắn thường ngẫu nhiên, không đều đặn như sự nỗ lực. Nếu may mắn đến mà ta không có đủ năng lực thì ta sẽ dễ dàng tuột mất. May mắn rất mong manh, dễ trôi đi nếu ta không đủ nhận thức. Bởi vậy mà chỉ có nỗ lực mới khiến bản thân mỗi người có thêm kiến thức, tri thức, biết đứng dậy sau mỗi lần gục ngã.

Minh chứng tiêu biểu cho vấn đề ấy là Thomas Edison - nhà bác học thiên tài trong lịch sử. Ông đã trải qua hơn 10000 lần thất bại, đã đi trên con đường chông gai mà không cần nhờ vào sự may mắn nào. Nhờ sự nỗ lực không ngừng nghỉ ấy mà phát minh bóng đèn sợi đốt của ông còn trở nên thông dụng trên thế giới. Như vậy, ta có thể thấy chính sự nỗ lực đã đưa con người ta tới thành công.

Tuy sự nỗ lực quan trọng là vậy nhưng trong xã hội vẫn còn một số cá nhân không chịu nỗ lực mà chỉ chờ may mắn tự đến với mình. Theo em, việc làm như thế là sai lầm bởi chẳng có thành công nào tự đến với người không có tinh thần cố gắng. Nỗ lực tuy vất vả, gặp nhiều khăn khó song nhờ có nó mà ta mới có đầy đủ kiến thức, kinh nghiệm và trải nghiệm. Bởi vậy mà ta nói, có thành công nào chỉ toàn may mắn mà nên, sự nỗ lực, cố gắng của bản thân vẫn là yếu tố then chốt trên bước đường ấy.

Qua đó, em nhận thấy được rằng sự nỗ lực vẫn luôn đáng giá và quan trọng hơn hết thảy. Mỗi con người chúng ta đều cần nỗ lực, thay đổi và trau dồi bản thân từng ngày để trở nên tốt đẹp hơn, có thêm nhiều tri thức và vốn sống để chuẩn bị cho tương lai tươi sáng. Hơn nữa, là măng non của đất nước, em thấy mình cần không ngừng tôi luyện bản thân, nỗ lực trong học tập và rèn luyện nhân cách để vươn tới cánh cửa tương lai, góp phần tạo một xã hội văn minh, một đất nước hùng mạnh.

Câu 1:
Bài làm
Câu chuyện ngụ ngôn "Chuyện của ba con vật" đã gửi gắm tới người đọc bài học về giá trị riêng của mỗi người và cần tôn trọng sự đóng góp của người khác. Trong đó, nhân vật Heo đã để lại ấn tượng sâu sắc trong em bởi tính thẳng thắn, tự trọng, không khoe mẽ. Ban đầu, heo không tham gia tranh luận mà chỉ lặng lẽ ăn, thể hiện sự điềm tĩnh và không thích khoe khoang. Khi bị gà chê bai rằng không giúp ích gì cho chủ, heo tỏ ra tức giận và phản ứng mạnh mẽ. Heo nói: "Thịt của ta để làm gì mi có biết không?" đã cho thấy heo nhận thức được giá trị của mình. Qua đó mà heo giúp gà ngộ nhận ra rằng mỗi con vật đều có ích theo cách của riêng mình. Quan trọng là ta cần biết giữ lòng tự tôn, đồng thời cũng nên trân trọng giá trị của người khác. Nhân vật heo tượng trưng cho những người đóng góp thầm lặng và không thích khoe công trong cuộc sống. Nhờ hình ảnh nhân vật heo mà em rút ra bài học về việc không nên đánh giá người khác một cách phiến diện, đồng thời cần tôn trọng người khác bởi mỗi cá nhân đều có giá trị, vai trò riêng biệt, khác nhau nhưng góp phần làm cho đời sống phong phú, đa dạng, xã hội văn minh, tốt đẹp.

Câu 2:

Bài làm

Giữa dòng chảy của xã hội hiện đại, nơi con người cạnh tranh khốc liệt, chúng ta dễ rơi vào trạng thái đố kỵ, tỏ ra không phục trước tài năng, năng lực của người khác. Nhiều người cho rằng việc khen ngợi người khác sẽ làm giảm giá trị của bản thân, vô tình hạ thấp mình xuống. Nhưng thực tế cho thấy, việc công nhận cho ai đó không khiến ta trở nên yếu kém mà thể hiện ta là người biết quan tâm tới người khác. Trước nhiều luồng ý kiến trái chiều, có quan điểm cho rằng: "Khen ngợi không làm người khác yếu đi". Theo em, em hoàn toàn đồng ý với câu nói trên.

Trước hết, ta hiểu "khen ngợi" chính là dùng lời nói tốt đẹp, thể hiện thái độ công nhận, tán thưởng những thành tựu, tài năng của người khác. Ý kiến trên thể hiện sức mạnh và tầm quan trọng của việc khen ngợi, nó không làm ta yếu kém hơn, ngược lại đó là việc làm thể hiện ta là người lịch sự, tinh tế, biết quan tâm người khác. Một lời khen ngợi chân thành chính là tia nắng tuy nhỏ nhưng rực rỡ chiếu sáng vào trái tim một cá nhân, giúp họ có thêm tự tin, thêm năng lượng tích cực.

Lời khen ngợi chẳng phải lời nói tung hô, nịnh nọt, nó chính là những điều được nói ra từ sâu thẳm đáy lòng, chẳng hạn như "Bạn giỏi quá!" hay "Bạn có con mắt thật tinh tường". Và lời khen ngợi thể hiện sự tán thành, công nhận một ai đó, cho thấy thái độ vui mừng, tích cực.

Việc khen ngợi, dù chỉ là những câu nói ngắn gọn nhưng chúng chính là những nguồn năng lượng tích cực, tiếp thêm niềm tin và hi vọng cho người khác. Lời khen ngợi chân thành sẽ giúp người nhận trở nên vui vẻ, hạnh phúc, tiếp thêm sức mạnh thôi thúc họ cố gắng nỗ lực phát huy những ưu điểm của mình. Không chỉ có ích với người nhận, đối với người trao đi hành động này khiến cho ta cảm thấy vui vẻ vì vừa làm một việc tốt. Khen ngợi cũng khiến cho ta rèn luyện nhãn quan tích cực, biết chú ý tới những điểm tốt của người khác, dù rất nhỏ và có tâm hồn thanh thản, an yên. Việc khen ngợi dập tan lòng đố kỵ trong trái tim mỗi người. Hơn nữa nó chính là sợi dây gắn kết tình cảm giữa người với người, thu hẹp khoảng cách và xây dựng nhiều mối quan hệ tốt đẹp, lành mạnh. Khi ta có thói quen khen ngợi người khác, điều đó cho thấy ta là người có phẩm chất cao đẹp, sự tinh tế, tấm lòng yêu thương, quan tâm người khác. Xã hội chỉ thực sự gắn kết khi con người biết dành cho nhau những lời khen ngợi tốt đẹp, đặc biệt trong hoàn cảnh khó khăn, đẩy lùi cái bóng của sự tiêu cực, ích kỷ của riêng mình.

Một nhân chứng sáng giá cho vấn đề này là tổng thống Abraham Lincoln - vị tổng thống thứ 16 nước Mỹ. Trong thời kì nội chiến đầy căng thẳng, thay vì trách mắng vị tướng đã làm trái lời của ông, Lincoln đã dành lời khen ngợi chân thành và tốt đẹp nhất tới vị tướng Grant - vị chỉ huy Lincoln hết sức tin tưởng. Chính nhờ bức thư giản dị kèm theo lời khen của ông mà vị tướng tài ba hết sức nể phục, dốc hết sức cho Tổ quốc. Qua đó ta thấy được sức mạnh của việc khen ngợi, thể hiện tài năng thu phục lòng người của Abraham Lincoln.

Tuy vậy nhưng trong xã hội hiện nay vẫn còn một số cá nhân sống ích kỷ, nhìn mọi thứ bằng con mắt đố kỵ và ganh ghét. Họ ghen tị với những thành công của người khác, tự dằn vặt với bản thân. Những người như vậy không chỉ đánh mất cơ hội học hỏi mà còn khiến chính mình trở nên bào mòn tư tưởng, suy nghĩ theo thời gian.

Như vậy, ý kiến trên đã thể hiện vai trò quan trọng của việc khen ngợi trong cuộc sống. Qua đó mà ta cần nhận thức được giá trị của lời khen ngợi. Hãy chủ động dành những lời khen ngợi tốt đẹp cho người khác, hãy tán dương những thành tích của họ. Hơn nữa hãy mở lòng với mọi người hơn, xây dựng một xã hội văn minh, hùng mạnh. Chỉ khi ta biết nâng người khác lên, bản thân ta cũng sẽ được ở một vị trí cao hơn.

Câu 1:
- Những hiện tượng lạ xuất hiện trong chuyến thám hiểm đáy biển:
+ "Những con sò, các lớp giáp xác nhỏ li ti phát ra ánh sáng lân tinh yếu ớt."

+ "những đống đá được hàng triệu động vật giống như những bông hoa và tảo phủ kín."
+ "tấm thảm thực vật dính nhơm nhớp"

+ "Những đống đá dưới đáy đại dương mà tôi vừa nói trên mang dấu vết một sự sắp đặt nhất định mà tôi không giải thích nổi."

+ "Tôi cảm thấy dưới đế giày bằng chì của tôi đang lạo xạo những xương khô."

+ "Ánh sáng soi đường cho chúng tôi ngày càng rực đỏ, tựa như ánh lửa của đám cháy phía chân trời."

Câu 2:

Số từ trong câu văn lên là từ "Một".

Câu 3:
- Theo văn bản, thuyền trưởng Nê-mô tự tin trong cuộc thám hiểm ở dưới đáy biển vì ông rất thông thạo con đường dưới biển, bước đi vững vàng giữa những đống đá ngổn ngang.

- Theo em, việc tự tin đó đem lại ý nghĩa cho cuộc thám hiểm:
+ Giúp đoàn thám hiểm di chuyển an toàn, thuận lợi và nhanh chóng.

+ Thể hiện kinh nghiệm dày dặn của thuyền trưởng Nê-mô.

+ Giúp mọi người trong đoàn thêm tin tưởng, chắc chắn vào thuyền trưởng Nê-mô.

Câu 4:

- Hai phẩm chất của thuyền trưởng Nê-mô trong văn bản: sự quyết đoán, dũng cảm và vốn hiểu biết sâu rộng.

- Lý do em nhận ra các phẩm chất đó:

+ Quyết đoán, dũng cảm: Trong môi trường dưới đáy biển đầy khắc nghiệt, tối tăm, ông vẫn vững bước đi giữa những đống đá ngổn ngang, dẫn đường cho nhân vật "tôi" - tiến sĩ A-rôn-nác.

+ Vốn hiểu biết sâu rộng: Ông thông thạo hết những con đường dưới đáy đại dương phức tạp và gian truân, cho thấy kinh nghiệm đầy mình, sự phi thường của thuyền trưởng Nê-mô.

Câu 5:

Theo em, việc khám phá, thám hiểm những miền đất lạ có tầm quan trọng lớn lao đối với mỗi người bởi:

+ Nó giúp con người mở rộng vốn hiểu biết về thế giới xung quanh và thiên nhiên xung quanh, khám phá những vẻ đẹp, sự bí ẩn của những miền đất lạ ấy.

+ Giúp con người rèn luyện lòng dũng cảm, ý chí vững bền và tinh thần tìm tòi, khám phá.

+ Đồng thời mang lại nhiều phát hiện mới có ích cho khoa học công nghệ.

Câu 1:

Nhân vật chính trong truyện thuộc kiểu nhân vật là con vật được nhân hóa và có đặc điểm như con người.

Câu 2:

1 biện pháp tu từ được sử dụng trong câu: liệt kê "Trâu cày, ngựa cưỡi, gà gáy báo thức, chó sủa giữ nhà"

Tác dụng:
+ Tăng sức gợi hình gợi cảm, thêm sinh động hấp dẫn cho lối diễn đạt của câu văn.

+ Nhấn mạnh công việc của từng con vật và ý nghĩa, giá trị công việc ấy giúp nhiều ích lợi cho con người. Song qua đó cần mỗi con vật trân trọng sự đóng góp của mỗi loài và tôn trọng nhau.

+ Tạo nhịp điệu nhịp nhàng, tạo sự liên kết chặt chẽ cho câu văn.

Câu 3:

Đặc điểm của truyện ngụ ngôn được thể hiện trong văn bản:

+Trong văn bản trên truyện ngụ ngôn được viết ngắn gọn dưới dạng văn xuôi.

+Các nhân vật trong truyện như anh nông dân là con người và "gà, chó, heo" là các con vật được nhân hóa, có đặc điểm giống con người.

+Văn bản trên đã gửi gắm bài học về giá trị riêng biệt của mỗi con người trong đời sống.

Câu 4:

- Chủ đề của truyện là : Ca ngợi giá trị riêng của mỗi người, chúng ta cần biết khiêm tốn, tôn trọng những giá trị ấy.

- Căn cứ vào cuộc trò chuyện giữa ba con vật "gà", "chó" và "heo" : Ban đầu, "gà" và "chó" đều phô trương lợi ích của mình và chê trách "heo" không giúp được gì, sau khi nghe "heo" giải thích, hai con vật kia mới hiểu ra mọi chuyện.

Câu 5:

Bài làm

(1)Khiêm tốn là một đức tính tốt đẹp mà mỗi chúng ta ai cũng cần có.(2)Việc khiêm tốn là ta không khoe khoang những tài năng, giá trị của mình, không thể hiện mình trên cơ.(3)Khi ta biết khiêm tốn là lúc ta biết nhún nhường, lắng nghe và học hỏi nhiều hơn để phát triển bản thân.(4)Bên cạnh đó việc trân trọng sự đóng góp của người khác sẽ khiến mỗi chúng ta được yêu quý, tin tưởng.(5)Đó là điều vô cùng cần thiết trong xã hội, không những tiếp thêm niềm tin và năng lượng cho họ mà còn thể hiện sự biết ghi nhận những nỗ lực của người khác.(6)Mỗi người trong đời sống cần khiêm tốn, biết tôn trọng sự đóng góp của người khác để nâng tầm bản thân, hoàn thiện nhân cách và tâm hồn,góp phần quan trọng trên bước đường thành công.(7)Là lớp măng non của đất nước, em nhận thấy rằng bản thân cần có tính khiêm tốn và biết trân trọng sự góp sức, cống hiến của người khác.(8)Bởi vậy, khiêm tốn là phẩm chất tốt đẹp mà mỗi chúng ta cần cố gắng rèn luyện từ hôm nay để trở thành những con người có ích cho xã hội.

 

Bài làm

Những biến động dữ dội của lịch sử nước ta không chỉ thử thách ý chí, lòng dũng cảm và tinh thần yêu nước của người dân Việt Nam mà còn là thời điểm để chứng minh sức mạnh kiên cường, bền bỉ của dân tộc ta. Sức mạnh ấy không chỉ thể hiện trên chiến trường mà còn trên bàn đàm phán. Chính trong những thử thách khắc nghiệt, những giây phút "ngàn cân treo sợi tóc", đất nước đã xuất hiện những con người mang trong mình bản lĩnh vững vàng và trí tuệ sắc sảo, dùng lời nói làm vũ khí, lấy lý lẽ làm sức mạnh để bảo vệ chính nghĩa của dân tộc. Tiêu biểu nhất đó chính là bà Nguyễn Thị Bình - nữ nhà ngoại giao tài ba đã ghi dấu ấn sâu sắc trong sự kiện Hiệp định Paris lịch sử.

Nguyễn Thị Bình thường được biết đến với tên gọi Madam Bình, tên khai sinh là Nguyễn Thị Châu Sa, sinh năm 1927 tại Quảng Nam trong một gia đình giàu truyền thống yêu nước. Là cháu ngoại của Phan Châu Trinh, bà sớm được hun đúc tinh thần độc lập và lý tưởng phụng sự Tổ quốc. Trong suốt con đường hoạt động cách mạng, bà có nhiều đóng góp quan trọng, nhưng dấu ấn sâu đậm nhất chính là vai trò tại Hội nghị Pa-ri (1968-1973) - một “trận chiến” ngoại giao khốc liệt, đồng thời là cột mốc vinh quang trong sự nghiệp đấu tranh vì độc lập dân tộc của bà.

Mùa thu năm 1968, giữa cuộc kháng chiến chống Mỹ đang ở giai đoạn đầy biến động nhất, bà Nguyễn Thị Bình được tin tưởng giao trọng trách của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền nam Việt Nam. Hình ảnh một người phụ nữ nhỏ nhắn, diện bộ áo dài thướt tha với phong thái ung dung tự tại bước xuống sân bay Paris đã thu hút sự chú ý của truyền thông quốc tế. Suốt năm năm đàm phán đầy cam go, bà Bình đã thể hiện bản lĩnh và ý chí của một "bông hồng thép" qua những cuộc đối đầu trực diện với các phái đoàn sừng sỏ. Trước các câu hỏi hóc búa từ phóng viên phương Tây nhằm xoáy sâu vào quan điểm chính trị, có ý định xuyên tạc, bà đã khéo léo đáp trả khiến ai cũng nể phục và im lặng ngay tức khắc. Điển hình là khi một nhà báo hỏi bà có phải cộng sản không, bà đã nói: "Tôi thuộc Đảng yêu nước". Hay khi bị chất vấn về quân đội miền Bắc, bà khẳng định: "Dân tộc Việt Nam là một, người Việt Nam ở miền Bắc cũng như ở Nam đều có nghĩa vụ chiến đấu chống xâm lược." Những câu trả lời dứt khoát, đanh thép và vững vàng của bà Nguyễn Thị Bình đã dập tan mọi tư tưởng sai lệch và cái nhìn phiến diện, đồng thời giúp thế giới hiểu rõ chính nghĩa của cuộc đấu tranh Việt Nam. Đỉnh cao của cuộc đàm phán là vào ngày 27/1/1973, khi Hiệp định Paris chính thức được ký kết tại trung tâm Kléber. Trong không khí trang nghiêm, bà Bình đã đại diện cho Chính phủ Cách mạng lâm thời đặt bút ký vào bản hiệp định, khiến Mỹ rút quân, công nhận chủ quyền Việt Nam. Giây phút ấy, đôi mắt của người phụ nữ dũng cảm nhòe lệ vì xúc động khi nghĩ tới đồng bào, tới dân tộc Việt Nam.

Qua đó, ta thấy được sự kiện trên là cột mốc son chói lọi nhất trong sự nghiệp của Nguyễn Thị Bình, khẳng định bản lĩnh của một bông hồng thép và hiện thực hóa lý tưởng phục sự Tổ quốc mà bà theo đuổi suốt cuộc đời. Cuộc đàm phán Hiệp định Paris không chỉ mang lại hòa bình cho dân tộc mà còn trở thành biểu tượng truyền cảm hứng mạnh mẽ về lòng yêu nước, tư duy sắc bén và trí tuệ của người phụ nữ Việt Nam trên thế giới.

Sự kiện trên đã chứng tỏ sự khôn khéo trong ngoại giao, ý chí thép và tấm lòng yêu nước sâu nặng của bà Nguyễn Thị Bình. Hình ảnh của bà Madam Bình trên bàn đàm phán đã khiến em vô cùng tự hào và khâm phục, đồng thời là tấm gương sáng, nhắc nhở em phải có lòng yêu nước, tinh thần bảo vệ Tổ quốc và không ngừng học tập, thay đổi bản thân sao cho xứng đáng với những gì thế hệ đi trước đã để lại cho chúng ta.

Bài làm

Nói tới Bắc Ninh quê hương em là nói tới những làn điệu dân ca quan họ, những tà áo liền anh liền chị giản dị mà thướt tha, các khu di tích độc đáo và những món ăn đặc sản đặc sắc. Song đây còn được gọi là vùng đất địa linh nhân kiệt, là nơi sản sinh ra các vị danh nhân nổi tiếng, các bậc hiền tài của nước nhà. Trong số đó, em đặc biệt tự hào về Trạng nguyên Nguyễn Đăng Đạo - một vị quan tài giỏi, liêm khiết và hết lòng vì dân vì nước. Đặc biệt, sự kiện ông được cử đi sứ sang nhà Thanh năm 1697 để đòi lại đất biên giới đã để lại dấu ấn sâu sắc trong lịch sử và trong lòng người dân quê hương.

Nguyễn Đăng Đạo(1651 - 1719) tại làng Hoài Bão, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Ông sinh ra trong một gia đình có truyền thống hiếu học và nhiều người đỗ đạt cao. Ngay từ nhỏ, ông đã nổi tiếng thông minh, chăm chỉ học hành và có chí lớn. Năm 1683, ông đỗ Trạng nguyên dưới triều vua Lê Hy Tông. Nguyễn Đăng Đạo đã có nhiều đóng góp cho quê hương Bắc Ninh và đất nước Đại Việt xưa và góp phần làm rạng danh truyền thống hiếu học của vùng đất Kinh Bắc. Nhưng sự kiện đặc biệt đã ghi dấu tên tuổi của ông vào trang sử nước nhà nói chung và quê hương Bắc Ninh nói riêng là chuyến đi sứ sang nhà Thanh năm 1697 để đòi lại phần đất biên giới bị lấn chiếm.

Năm 1697, khi nhiều vùng đất biên giới của nước ta bị quan lại nhà Thanh lấn chiếm, triều đình nhà Lê đã cử Trạng nguyên Nguyễn Đăng Đạo và Nguyễn Thế Bá làm Chánh sứ sang Yên Kinh để dâng quốc thư và đòi lại đất. Đây là nhiệm vụ vô cùng quan trọng và khó khăn, bởi ông phải thay mặt đất nước tranh luận trước triều đình một nước lớn. Trước các quan nhà Thanh, Nguyễn Đăng Đạo đã bình tĩnh trình bày bản đồ, đưa ra những bằng chứng rõ ràng và lập luận chặt chẽ để khẳng định chủ quyền của Đại Việt. Vua Thanh ngay lập tức chú ý tới những vùng đất biên giới và đặc biệt ấn tượng với tài đối đáp, những luận bác hợp lí, phong thái tự tin và sự khéo léo của Nguyễn Đăng Đạo. uy chuyến đi chưa thể đòi lại đất ngay lập tức, nhưng tài năng và khí phách của ông đã khiến vua Thanh phải nể trọng. Theo tương truyền, ông còn được phong là “Lưỡng quốc Trạng nguyên”, làm rạng danh quê hương Bắc Ninh và đất nước Đại Việt.

Sự kiện đi sứ năm 1697 có ý nghĩa rất lớn đối với Trạng nguyên Nguyễn Đăng Đạo và đối với đất nước. Với ông, đây là dấu mốc quan trọng trong cuộc đời làm quan, giúp ông thể hiện trí tuệ, bản lĩnh và lòng yêu nước trước triều đình nhà Thanh và khiến nhà vua phải nể phục. Đối với cộng đồng và đất nước, sự kiện này khẳng định tinh thần kiên quyết bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của Đại Việt và góp phần giữ gìn thể diện quốc gia trước nước lớn. Qua đó, nhân dân càng thêm tự hào về truyền thống hiếu học và khí phách của người con quê hương Bắc Ninh.

Từ sự kiện trên, em càng thêm nể phục và kính trọng vị lưỡng quốc trạng nguyên của vùng đất Kinh Bắc yêu dấu. Nguyễn Đăng Đạo đã thành công ghi danh tên tuổi của mình vào trang sử vàng nước nhà, góp phần lan tỏa truyền thống hiếu học của quê hương tới cộng đồng, xã hội. Tấm gương sáng về trí tuệ, bản lĩnh và lòng yêu nước của ông sẽ mãi là niềm tự hào của người dân Bắc Ninh. Em tự nhủ sẽ cố gắng học tập, rèn luyện thật tốt để xứng đáng với truyền thống vẻ vang ấy và góp phần xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp hơn.

Bài làm

Từ ngàn đời nay, những trang sử đất Việt đều được viết nên bằng mồ hôi, xương máu và lòng yêu nước nồng nàn của biết bao thế hệ cha ông. Mỗi khi Tổ quốc đứng trước họa xâm lăng, những bậc anh hùng hào kiệt xuất hiện, đứng ra bảo vệ cho non sông đất nước. Thời kì phong kiến, nhà Trần đã ghi dấu ấn rực rỡ vào trang sử vàng với những chiến công oanh liệt, đó là ba lần kháng chiến chống quân Nguyên Mông. Nổi bật nhất trong ba cuộc chiến đấu là chiến thắng Bạch Đằng năm 1288 dưới sự chỉ huy của Trần Hưng Đạo - vị tướng tài ba thời nhà Trần. Sự kiện lẫy lừng đó đã thể hiện bản lĩnh, trí tuệ sâu sắc của người Việt xưa.

Trần Hưng Đạo(1226 - 1300) hay được gọi là Hưng Đạo Vương, tên thật là Trần Quốc Tuấn. Ông là vị tướng kiệt xuất thời nhà Trần. Hưng Đạo Vương được phong làm Quốc công Tiết chế và lãnh đạo quân dân ta đánh bại quân Nguyên Mông trong ba lần xâm lược, tiêu biểu là chiến thắng Bạch Đằng năm 1288. Không chỉ giỏi cầm quân, ông còn để lại tác phẩm “Hịch tướng sĩ” nổi tiếng, khơi dậy tinh thần yêu nước của quân dân ta.

Trận chiến chống quân Nguyên Mông trên sông Bạch Đằng năm 1288 đã mang lại chiến thắng vang dội cho nước Đại Việt. Trận chiến ấy đã đập tan ý định xâm lược của quân Nguyên Mông, bảo vệ vững chắc nền độc lập của đất nước và khẳng định sức mạnh, ý chí quyết tâm, tư duy sắc xảo của Trần Hưng Đạo.
Cuối tháng 12 năm 1287, khoảng 50 vạn quân Nguyên chia làm ba đạo từ ba hướng tiến vào nước ta với ý định đánh chiếm Thăng Long. Đạo quân do Thoát Hoan chỉ huy tiến theo đường Lạng Sơn, đạo A Lỗ theo đường sông Hồng, còn thủy quân do Ô Mã Nhi chỉ huy cùng đoàn thuyền lương tiến vào vùng Đông Bắc. Trước thế mạnh của địch, Trần Hưng Đạo chủ trương vừa chặn đánh vừa rút lui để bảo toàn lực lượng, đồng thời thực hiện kế “vườn không nhà trống” khiến quân Nguyên rơi vào tình thế hết sức khó khăn. Lúc này, bọn chúng vừa thiếu lương thực, vừa kiệt sức vừa chán nản. Đặc biệt, Trần Khánh Dư đã phục kích ở Vân Đồn, tiêu diệt toàn bộ đoàn thuyền lương của giặc, đẩy chúng vào tình thế khủng hoảng. Sau hơn một tháng chiếm đóng Thăng Long nhưng không đạt được mục tiêu, cộng với ám ảnh lần trước, Thoát Hoan buộc phải rút quân về nước. Nắm bắt thời cơ, Trần Hưng Đạo cho quân bí mật chuẩn bị trận địa trên sông Bạch Đằng. Ông cho đóng hàng nghìn cọc gỗ lớn, đầu bịt sắt nhọn, cắm sâu xuống lòng sông ở những nơi hiểm yếu, lợi dụng nước thủy triều lên xuống để che giấu những cái cọc đó. Hai bên bờ và các lạch sông, quân ta được bố trí mai phục sẵn sàng chờ lệnh. Mọi công việc đều được tiến hành khẩn trương nhưng vô cùng kín đáo, chờ đợi thời cơ quyết chiến với quân giặc. Tháng 4 năm 1288, quân ta nhử thuyền của Ô Mã Nhi tiến vào vùng trận địa. Lúc ấy thủy triều đang xuống, nước chảy mạnh, những chiếc thuyền của quân địch bất ngờ lao ra, bị cọc chặn lại. Quân ta từ hai bên bờ và các lạch sông đồng loạt tấn công dữ dội, tiêu diệt hoàn toàn đạo thủy quân. Trên đường bộ, quân Nguyên cũng bị đánh tả tơi, tan tác, Thoát Hoan phải tháo chạy về nước. Cuộc kháng chiến lần thứ ba chống Nguyên Mông kết thúc thắng lợi vẻ vang, bảo vệ vững chắc nền độc lập của Đại Việt.

Như vậy, ta thấy rằng chiến thắng trên sông Bạch Đằng đã đưa tên tuổi Trần Hưng Đạo vang xa không chỉ ở trong nước mà còn trên thế giới. Đồng thời sự kiện ấy trở thành niềm tự hào của dân tộc Việt Nam. Đây là dấu mốc quan trọng trong cuộc đời ông, góp phần thể hiện lòng yêu nước, tinh thần chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc quyết liệt và tư duy nhạy bén, thông minh của Trần Hưng Đạo. Vị lãnh tướng hào kiệt ấy đã được ghi danh vào lịch sử nước nhà và cuộc chiến trên đã trở thành sự kiện đầy vẻ vang của non sông nước Việt.
Sự kiện trên đã giúp em có thêm nhiều hiểu biết về lịch sử đất nước, đã khơi dậy trong em tinh thần yêu nước, bảo vệ Tổ quốc và không ngừng học hỏi, tìm tòi khám phá để mở mang hiểu biết thêm về những trang sử hào hùng và trở thành một công dân tốt. Trần Hưng Đạo mãi là một tấm gương sáng mà em cần noi theo và học tập, ghi nhớ công ơn to lớn của ông để xứng đáng là người con đất Việt.

Các thao tác kẻ đường viền cho bảng dữ liệu này:
B1: Chọn vùng dữ liệu: Dùng chuột bôi đen toàn bộ dữ liệu cần kẻ khung
B2: Kẻ viền cho từng ô:
+ Tại thẻ Home, tìm nhóm Font, bấm vào mũi tên cạnh công cụ (biểu tượng hình vuông)
+ Sau đó chọn "All Borders" để kẻ viền cho từng ô.
B3: Kẻ khung bao quanh toàn bộ dữ liệu
+ Dùng chuột đánh dấu toàn bộ dữ liệu, vẫn ở công cụ Borders, chọn "Thick Outside Borders" để kẻ khung bao quanh.

Các thao tác để sao chép trang "Doanh số 01" và đặt bản sao đó (sau khi đổi tên thành "Doanh số Q2") đúng vị trí mong muốn:
B1: Mở file Excel có chứa trang tính "Doanh số Q1".
B2: Nhấp chuột phải vào tên trang tính "Doanh số Q1" và chọn "Move or Copy".
B3: Trong hộp thoại "Move or Copy" bấm tích vào ô "Creat a copy".

B4: Nhấn Ok để hoàn tất sao chép.

Để xóa bỏ 1 trang tính không cần thiết ta cần:
B1: Nhúp chuột phải vào tên trang tính đó ở thanh tab dưới cửa sổ Excel.
B2: Chọn Delete
Khi ta xóa trang tính đó thì mọi dữ liệu, định dạng trong trang tính sẽ bị xóa bỏ hoàn toàn và không thể khôi phục lại bằng lệnh Ctrl+Z, tuy nhiên điều này không ảnh hưởng tới các trang tính khác.