Nguyễn Tuệ Nhi
Giới thiệu về bản thân
Trong dòng chảy hào hùng của lịch sử quân đội Việt Nam thế kỷ XX, Đại tướng Lê Trọng Tấn là một trong những vị chỉ huy xuất sắc nhất. Ông sinh năm 1914, tham gia cách mạng từ những ngày đầu và trưởng thành trong kháng chiến chống thực dân Pháp và sau đó là cuộc chiến chống Mỹ xâm lược. Suốt cuộc đời binh nghiệp, ông luôn là người tiên phong ở những điểm nóng, từ chiến dịch Biên giới, Ðiện Biên Phủ đến Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, nơi Quân giải phóng đã giải phóng Sài Gòn vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 – đánh dấu thắng lợi cuối cùng của công cuộc thống nhất đất nước.
Trong những năm chiến tranh, ông giữ nhiều chức vụ quan trọng như Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng và Phó Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Lê Trọng Tấn tiếp tục điều hành quân đội trong thời kỳ mới và được cử làm Tư lệnh Mặt trận Tây Nam trong cuộc chiến bảo vệ biên giới và hỗ trợ nhân dân Campuchia lật đổ chế độ diệt chủng Khmer Đỏ vào năm 1979.
Trong thời gian này, ở chiến trường Cánh đồng Chum – Xiêng Khoảng (Lào), quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với Quân đội nhân dân Lào và lực lượng cách mạng kiểm soát khu vực trọng yếu đối diện với lực lượng quân đội do Mỹ và chính phủ Lào thân Mỹ hậu thuẫn. Trận đánh ấy sau này để lại một lời nói nổi tiếng của Đại tướng Lê Trọng Tấn khi ông nghe báo cáo tình hình và quyết định trực tiếp chỉ huy chiến dịch: “Đánh trận này, ba đời sau Thái Lan còn sợ.”
Câu nói này phản ánh niềm tin sắt đá và quyết tâm chiến đấu của ông trong chiến dịch lớn, khi đối mặt với một lực lượng hỗn hợp gồm quân đội đối phương và lính đánh thuê. Vị tướng của chúng ta không chỉ là người đề ra chiến lược, mà còn trực tiếp chỉ đạo triển khai lực lượng, phối hợp pháo binh, bộ binh và các đơn vị vũ trang khác để giành chiến thắng trên chiến trường.
Chiến dịch Cánh đồng Chum đã góp phần quan trọng vào việc phá vỡ tuyến phòng thủ của lực lượng thân Mỹ, giành lại quyền chủ động ở khu vực chiến lược này, và tạo điều kiện thuận lợi cho các chiến dịch sau đó. Việc đại thắng trong chiến dịch là minh chứng rõ nét cho tài năng điều binh, mưu lược chỉ huy của ông – người được đồng đội, đồng chí và cả đối phương thời đó kính nể.
Suốt sự nghiệp, Lê Trọng Tấn được đánh giá là một trong những vị tướng nổi bật nhất của thế kỷ XX tại Việt Nam, từng góp phần quan trọng trong nhiều chiến dịch quyết định, góp phần khẳng định vị thế và năng lực chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam trên đấu trường quốc tế. Ông mất năm 1986, nhưng tên tuổi và những chiến công của ông vẫn được nhắc đến như biểu tượng của sự quyết đoán, tài thao lược và lòng yêu nước sâu sắc.
Trong dòng chảy thăm thẳm của lịch sử dân tộc, có những con người không bước ra từ huyền thoại mà vẫn để lại dấu ấn rất thật trên non sông. Lý Thái Tổ – người đời quen gọi bằng tên thuở thiếu thời là Lý Công Uẩn – chính là một nhân vật như thế.
Sinh ra ở làng Cổ Pháp (Đình Bảng, Bắc Ninh), tuổi thơ ông lớn lên dưới mái chùa, thấm nhuần chữ Nho, kinh Phật và võ nghệ. Trưởng thành giữa thời cuộc biến động cuối triều Tiền Lê, ông được lòng quân sĩ và triều thần bởi tài năng và đức độ. Năm 1009, trước cảnh triều chính rối ren, lòng dân oán thán, ông được suy tôn lên ngôi, mở đầu triều Lý.
Nhưng sự kiện làm nên tầm vóc vĩ đại của Lý Thái Tổ không chỉ là việc đăng cơ, mà chính là quyết định dời đô năm 1010.
Hoa Lư – vùng núi non hiểm trở – từng là nơi nương tựa vững chắc trong buổi đầu dựng nước. Song khi đất nước đã yên, một kinh đô khép mình giữa núi đá không thể đáp ứng khát vọng mở mang lâu dài. Nhìn ra thế nước, nghĩ đến tương lai muôn đời, nhà vua đã ban “Chiếu dời đô” – một áng văn chính luận thấm đẫm tư tưởng vì dân, vì nước. Ông viết rằng các triều đại thịnh trị xưa kia đều “tùy thời mà dời đổi”, không phải vì tư lợi mà vì “mưu nghiệp lớn, tính kế lâu dài cho con cháu”.
Trong chiếu, ông khẳng định thành Đại La là nơi “ở giữa trời đất, được cái thế rồng cuộn hổ ngồi”, đất rộng mà bằng phẳng, cao mà thoáng, muôn vật phong phú tốt tươi, dân không khổ vì ngập lụt. Đó không chỉ là sự quan sát của một vị vua, mà là tầm nhìn của một nhà chiến lược hiểu rằng vận mệnh quốc gia gắn liền với thế đất và lòng dân.
Mùa thu năm 1010, thuyền rồng ngược sông Hồng tiến về Đại La. Tương truyền khi thuyền cập bến, rồng vàng bay lên giữa không trung, vua bèn đổi tên thành Thăng Long – “rồng bay lên”. Hình ảnh ấy như một điềm lành, báo hiệu sự chuyển mình của dân tộc. Từ đây, Thăng Long trở thành trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa suốt nhiều thế kỉ, là trái tim của đất nước.
Dời đô không chỉ là thay đổi địa điểm đặt triều đình. Đó là sự chuyển hướng của lịch sử, là bước đi thể hiện khát vọng trường tồn và ý chí vươn lên của Đại Việt. Quyết định ấy chứng tỏ Lý Thái Tổ không chỉ là người kế vị một triều đại, mà là người kiến tạo tương lai.
Bởi vậy, mỗi khi nhắc đến Lý Thái Tổ, người ta nhớ đến vị vua đã nhìn xa hơn thời đại mình sống. Từ Hoa Lư đến Thăng Long, từ thế “thủ hiểm” sang thế “rồng bay”, ông đã mở ra một trang sử mới – trang sử của tầm nhìn, của bản lĩnh và của niềm tin vào vận mệnh dài lâu của non sông Đại Việt.
Thiết bị vào – ra trên điện thoại là Màn hình cảm ứng.
Giải thích:
+ Thiết bị vào : Khi hạm, vuốt, gõ phím ảo trên màn hình, màn hình cảm ứng sẽ nhận các thao tác đó làm dữ liệu đầu vào và gửi đến bộ xử lý của điện thoại.
+ Thiết bị ra : Đồng thời, màn hình là nơi hiển thị thông tin, hình ảnh, video, giao diện ứng dụng từ điện thoại ra cho người dùng xem.
Loại thiết bị của từng thiết bị:
a) Màn hình máy tính: Thiết bị ra.
b) Tay cầm chơi game: Thiết bị vào.
c) Tai nghe có gắn micro: Thiết bị vừa vào vừa ra.
Thiết bị vào: máy ảnh, bàn phím, micro.
Thiết bị ra: màn hình, loa, máy in.
Một số việc nên làm và không nên làm khi sử dụng máy tính
1; Việc nên làm khi sử dụng máy tính:
+ Dùng để học tập, sáng tạo các nội dung số.
+ Dùng để tính toán, giải quyết các công việc, văn bản hiệu quả.
+ Dùng để kết nối mạng tìm kiếm thông tin hữu ích, giao lưu với bạn bè, người thân một cách lành mạnh.
+ Dùng để giải trí, thư giãn một cách khoa học, hợp lý sau những giờ học tập, làm việc căng thẳng.
+ Dùng để lưu trữ các dữ liệu quan trọng để phục vụ học tập, công việc, cuộc sống.
+ Thường xuyên vệ sinh, lau chùi máy tính để đảm bảo tính thẩm mỹ và độ bền của máy tính theo thời gian, tiết kiệm tiền bạc chi phí sửa chữa hoặc thay mới.
2; Một số việc không nên làm với máy tính:
+ Lạm dụng máy tính quá mức gây ảnh hưởng đến sức khỏe, công việc, cuộc sống, thị lực.
+ Dùng máy tính kết nối mạng thực hiện các hành vi quấy rối người khác, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, thông tin cá nhân...
+ Dùng máy tính kết nối mạng thực hiện các hành vi đe dọa, xúc phạm danh dự của tổ chức, cá nhân.
+ Dùng máy tính kết nối mạng tham gia các hoạt động phi pháp đánh bài, chơi bạc, cá độ, lô đề...
+ Không giữ gìn vệ sinh, bảo quản máy tính khi sử dụng
Một số việc nên làm và không nên làm khi sử dụng máy tính
1; Việc nên làm khi sử dụng máy tính:
+ Dùng để học tập, sáng tạo các nội dung số.
+ Dùng để tính toán, giải quyết các công việc, văn bản hiệu quả.
+ Dùng để kết nối mạng tìm kiếm thông tin hữu ích, giao lưu với bạn bè, người thân một cách lành mạnh.
+ Dùng để giải trí, thư giãn một cách khoa học, hợp lý sau những giờ học tập, làm việc căng thẳng.
+ Dùng để lưu trữ các dữ liệu quan trọng để phục vụ học tập, công việc, cuộc sống.
+ Thường xuyên vệ sinh, lau chùi máy tính để đảm bảo tính thẩm mỹ và độ bền của máy tính theo thời gian, tiết kiệm tiền bạc chi phí sửa chữa hoặc thay mới.
2; Một số việc không nên làm với máy tính:
+ Lạm dụng máy tính quá mức gây ảnh hưởng đến sức khỏe, công việc, cuộc sống, thị lực.
+ Dùng máy tính kết nối mạng thực hiện các hành vi quấy rối người khác, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, thông tin cá nhân...
+ Dùng máy tính kết nối mạng thực hiện các hành vi đe dọa, xúc phạm danh dự của tổ chức, cá nhân.
+ Dùng máy tính kết nối mạng tham gia các hoạt động phi pháp đánh bài, chơi bạc, cá độ, lô đề...
+ Không giữ gìn vệ sinh, bảo quản máy tính khi sử dụng