Nguyễn Thùy Mỹ Hoa
Giới thiệu về bản thân
Trong dòng chảy huy hoàng của lịch sử dân tộc, có những cái tên đã trở thành huyền thoại, tạc vào dáng đứng của non sông. Đối với em, nhân vật để lại niềm xúc động và sự ngưỡng mộ sâu sắc nhất chính là nữ anh hùng Võ Thị Sáu. Sự việc khắc sâu trong tâm trí em nhất chính là những giây phút hiên ngang cuối cùng của chị trước họng súng kẻ thù tại nghĩa trang Hàng Dương.
Hồi ấy, chị Sáu bị giặc Pháp bắt giam và đưa ra Côn Đảo khi tuổi đời còn rất trẻ. Chị bước ra pháp trường giữa bình minh trên đảo vắng: Gió biển thổi lồng lộng, sóng vỗ rì rào vào vách đá như lời tiễn biệt của quê hương. Chị bước đi giữa hai hàng lính gác, tà áo bà ba phất phơ trong gió, gương mặt chị thanh thản lạ thường, đôi mắt sáng trong veo như chứa đựng cả bầu trời tự do mà chị hằng theo đuổi.
Sự việc đẩy lên cao trào khi tên cha cố tiến lại gần định rửa tội cho chị. Chị đã thẳng thắn từ chối: "Tôi không có tội. Chỉ có kẻ sắp giết tôi đây mới là người có tội". Đặc biệt hơn cả, khi bọn đao phủ định dùng băng đen để bịt mắt, chị đã gạt phắt đi và bảo: "Không cần bịt mắt tôi. Hãy để cho đôi mắt tôi được nhìn đất nước thân yêu đến giây phút cuối cùng". Chính thái độ ung dung, bình thản ấy đã khiến những tên lính cầm súng phải run rẩy, khiếp nhược trước khí tiết của một người con gái nhỏ bé.
Giây phút cuối cùng, thay vì tiếng khóc hay sự sợ hãi, chị đã cất cao tiếng hát. Bài hát Tiến quân ca vang lên giữa không gian tĩnh lặng của nghĩa trang Hàng Dương, lấn át cả tiếng lên đạn lách cách của kẻ thù. Khi tiếng súng vang lên, chị ngã xuống nhưng nụ cười vẫn nở trên môi, và đóa hoa lê-ki-ma trắng muốt như vừa bừng nở từ dòng máu thắm của chị, hòa vào đất mẹ Côn Đảo đại ngàn.
Giờ đây, mỗi khi nghe lại bài hát về chị, em lại thấy sống mũi mình cay cay. Hình ảnh người thiếu nữ cài bông hoa lên mái tóc, bước đi hiên ngang trước họng súng giặc đã trở thành biểu tượng vĩnh cửu của lòng yêu nước và tinh thần quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh.
Sự hy sinh của chị Võ Thị Sáu không phải là dấu chấm hết, mà là sự bắt đầu của một huyền thoại. Câu chuyện về chị nhắc nhở thế hệ học sinh chúng em rằng: Hòa bình hôm nay được đổi bằng máu và nước mắt của cha anh. Chúng em tự hứa sẽ học tập thật tốt, rèn luyện đạo đức để xứng đáng với sự hy sinh cao cả của những đóa hoa bất tử như chị Sáu.
Bắc Ninh quê em vốn tự hào là "giỏ chè, giành bạc", nơi sản sinh ra những bậc hiền tài làm rạng danh sử sách. Trong số đó, nhân vật khiến em ngưỡng mộ nhất chính là Lưỡng quốc Trạng nguyên Nguyễn Đăng Đạo. Cuộc đời ông là một bản anh hùng ca về ý chí hiếu học, nhưng sự việc để lại ấn tượng sâu sắc nhất trong em chính là chuyến đi sứ nhà Thanh năm 1697.
Hồi ấy, Nguyễn Đăng Đạo đã ngoài 40 tuổi, mang trên mình trọng trách của một vị quan đại thần. Ông chuẩn bị lên đường: dưới ánh nắng hanh vàng của vùng biên ải, vị sứ thần nước Việt với chòm râu đen dài, ánh mắt cương nghị nhưng hiền từ, vận bộ triều phục chỉnh tề, hiên ngang bước đi. Đôi mắt ấy không chỉ chứa đựng tri thức mênh mông mà còn rực cháy một ý chí bảo vệ chủ quyền dân tộc.
Tại triều đình nhà Thanh, trước sự thử thách gắt gao của vua tôi phương Bắc về cả văn chương lẫn đối đáp, Nguyễn Đăng Đạo đã khiến tất cả phải ngả mũ thán phục. Bằng tài năng xuất chúng và lý lẽ đanh thép, ông không chỉ đối đáp trôi chảy các vế đối hóc búa mà còn thể hiện một tầm vóc trí tuệ vượt bậc. Chính nhờ phong thái ung dung, tự tại và kiến thức uyên bác ấy, vua nhà Thanh đã vô cùng nể trọng, sắc phong cho ông là Trạng nguyên của Bắc triều. Từ đó, cái tên "Lưỡng quốc Trạng nguyên" (Trạng nguyên hai nước) ra đời như một sự khẳng định vị thế của trí tuệ Việt Nam trên trường quốc tế.
Tuy nhiên, điều khiến em cảm động nhất không chỉ là danh hiệu cao quý ấy, mà là thành quả thiết thực ông mang về cho Tổ quốc. Trong chuyến đi này, bằng sự khéo léo và kiên quyết trong ngoại giao, ông đã thuyết phục được nhà Thanh trả lại cho nước ta vùng đất biên giới ở vùng Tuyên Quang, Hưng Hóa bị lấn chiếm từ lâu. Đó là một chiến thắng không cần gươm giáo, một minh chứng cho sức mạnh của văn hóa và lòng yêu nước.
Hiện nay, mỗi khi đi qua khu từ đường dòng họ Nguyễn Đăng ở Tiên Du, nhìn những tấm bia đá rêu phong ghi danh công trạng của ông, em lại thấy lòng mình trào dâng một niềm tự hào khó tả. Hình ảnh vị Trạng nguyên tài hoa, đức độ như vẫn còn đâu đó trong làn gió mát của quê hương Quan họ.
Tóm lại, câu chuyện về chuyến đi sứ của Nguyễn Đăng Đạo đã để lại trong em bài học quý giá về sự học và lòng tự tôn dân tộc. Ông không chỉ là niềm hãnh diện của dòng họ, của quê hương Bắc Ninh mà còn là tấm gương sáng cho thế hệ trẻ chúng em soi vào để tự nhắc nhở mình: "Công nghệ có thể thay đổi, nhưng bản sắc và trí tuệ con người mới là giá trị trường tồn".
Thiết bị vào – ra trên điện thoại là Màn hình cảm ứng.
+ Thiết bị vào : Khi hạm, vuốt, gõ phím ảo trên màn hình, màn hình cảm ứng sẽ nhận các thao tác đó làm dữ liệu đầu vào và gửi đến bộ xử lý của điện thoại.
+ Thiết bị ra : Đồng thời, màn hình là nơi hiển thị thông tin, hình ảnh, video, giao diện ứng dụng từ điện thoại ra cho người dùng xem.
a) Màn hình máy tính: Thiết bị ra.
b) Tay cầm chơi game: Thiết bị vào.
c) Tai nghe có gắn micro: Thiết bị vừa vào vừa ra
Thiết bị vào: máy ảnh, bàn phím, micro.
Thiết bị ra: màn hình, loa, máy in.
d, b, c, a
- Một số việc nên làm khi sử dụng máy tính là:
+ Đọc kĩ hướng dẫn trước khi sử dụng thiết bị.
+ Giữ bàn tay khô, sạch khi sử dụng máy tính.
+ Gõ phím dứt khoát nhưng nhẹ nhàng.
+ Sử dụng nút lệnh Shut-down để tắt máy tính.
+ Rút điện trước khi lau, dọn máy tính.
+ Thoát hết ứng dụng, đóng mọi tài liệu trước khi tắt máy tính.
- Một số việc không nên làm khi sử dụng máy tính là:
+ Thao tác tùy tiện, không theo hướng dẫn.
+ Để đồ uống gần chuột, bàn phím, thẻ nhớ,…
+ Tác động lên màn hình bằng các vật sắc nhọn.
+ Tắt máy tính bằng cách ngắt điện đột ngột.
+ Chạm vào phần kim loại của máy tính.
+ Nối máy tính và máy in khi một trong hai máy đang bật nguồn.