Vũ Thị Mai Phương

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Vũ Thị Mai Phương
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Công nghệ tế bào động vật là kĩ thuật nuôi cấy và thao tác trên tế bào động vật trong điều kiện nhân tạo để tạo ra sản phẩm hoặc cơ thể theo mục đích con người.

Nguyên lí:
Dựa vào khả năng phân chia và biệt hoá của tế bào → tách tế bào ra nuôi cấy trong môi trường thích hợp → điều khiển chúng phát triển thành mô, cơ quan hoặc cơ thể hoàn chỉnh.

Thành tựu:

  • Nhân bản vô tính động vật (cừu Dolly)
  • Nuôi cấy tế bào sản xuất vắc-xin, kháng thể
  • Thụ tinh trong ống nghiệm, cấy truyền phôi
  • Bảo tồn nguồn gen, tạo giống vật nuôi quý hiếm


Phơi héo rau: làm giảm nước trong tế bào → rau giòn hơn, hạn chế vi sinh vật gây thối
Cho thêm đường: cung cấp nguyên liệu cho vi khuẩn lactic lên men → tạo axit lactic làm dưa chua
Đổ nước ngập rau: tạo môi trường yếm khí → vi khuẩn lactic phát triển, ức chế vi khuẩn hại
Nén chặt bằng vật nặng: đẩy hết không khí ra ngoài → tránh nấm mốc, giúp dưa lên men tốt và bảo quản lâu hơn


a. Số tinh trùng Y = 512 ⇒ tổng số tinh trùng = 1024
⇒ số tế bào sau nguyên phân: 2^k = 1024 => k = 10


b. Tổng NST môi trường cung cấp:
(2^k - 1). 2n = 4080
(2^10 - 1). 2n = 4080 => 1023 => 2n = 4080
=> 2n = 4


Dưa, cà muối bảo quản được lâu vì:Trong quá trình muối, vi khuẩn lên men lactic phát triển, tạo ra axit lactic.Môi trường trở nên chua và có nồng độ muối cao, làm ức chế vi sinh vật gây hư hỏng.Nhờ đó, thực phẩm khó bị thối rữa và giữ được lâu hơn.


a)
Từ dữ kiện:
10·2n(2^k -1)=20400 và 10·2^k·2n=20480
→ Giải ra: n = 4 ⇒ 2n = 8


b)
Số tế bào vào giảm phân: 10·2^k = 2560
Nếu là đực: số giao tử = 2560·4 = 10240
Hiệu suất 10% → hợp tử = 10240·10\% = 1024


Vi khuẩn Escherichia coli phân đôi mỗi 30 phút.3 ngày = 72 giờ = 4320 phút.Số lần phân đôi: 4320 : 30 = 144 lần

Số tế bào sau n lần phân đôi:
N = N_0 \times 2^n

→ N = 30 \times 2^{144}

Vì 2^{144} là số cực lớn nên kết quả:
N = 30 × 2¹⁴⁴ (tế bào)


Kì đầu:
NST bắt đầu co xoắn, đóng xoắn nên trở nên ngắn và dày, mỗi NST gồm 2 cromatit dính nhau ở tâm động. Màng nhân và nhân con dần tiêu biến. Thoi phân bào bắt đầu hình thành.


Kì giữa:
NST co xoắn cực đạixếp thành một hàng trên mặt phẳng xích đạo của tế bào. Thoi phân bào hoàn chỉnh, các sợi tơ thoi gắn vào tâm động của NST. Màng nhân đã tiêu biến hoàn toàn.


Kì sau:
Hai cromatit chị em tách nhau tại tâm động, trở thành các NST đơn và phân li về hai cực của tế bào nhờ sự co rút của thoi phân bào. Màng nhân chưa hình thành lại.


Kì cuối:
NST dãn xoắn, trở lại dạng sợi mảnh. Thoi phân bào tiêu biến dần. Màng nhân và nhân con tái hình thành ở mỗi cực, tạo thành hai nhân mới.


a)
Quan sát hình: các nhiễm sắc thể (NST) xếp thành 2 hàng ở mặt phẳng xích đạo, mỗi NST vẫn gồm 2 cromatit và các cặp tương đồng đối diện nhau → đây là kì giữa I của giảm phân.

Đếm hình có 4 cặp NST tương đồng (tổng 8 NST) → bộ NST lưỡng bội:
2n = 8


b)
Trong giảm phân:1 tế bào ban đầu → tạo ra 4 tế bào con.Mỗi tế bào con có n = 4 NST

Tổng số NST sau phân bào là 192:
→ Số tế bào con = 192 : 4 = 48 (tế bào)

Vì 1 tế bào ban đầu → 4 tế bào con:
→ Số tế bào tham gia phân bào = 48 : 4 = 12


a)
Phương pháp trên là nhuộm Gram, dùng để nghiên cứu một số đặc điểm cơ bản của vi khuẩn như:

  • Phân biệt vi khuẩn Gram dương và Gram âm:
    • Gram dương bắt màu tím.
    • Gram âm bắt màu đỏ (fuchsin).
  • Quan sát hình dạng và cách sắp xếp tế bào: cầu khuẩn, trực khuẩn, xoắn khuẩn; đứng riêng lẻ, thành chuỗi hay từng đám.

→ Như vậy, phương pháp này giúp nhận biết cấu trúc vách tế bào (gián tiếp qua bắt màu)hình thái vi khuẩn.


b)
Vi khuẩn có các hình thức sinh sản chủ yếu:

  • Phân đôi (phổ biến nhất).
  • Nảy chồi (ít gặp).
  • Tạo bào tử (trong điều kiện bất lợi, chủ yếu để tồn tại).

Phương pháp nhuộm Gram không xác định được hình thức sinh sản của vi khuẩn vì:

  • Đây chỉ là phương pháp nhuộm để quan sát hình thái và tính chất bắt màu.
  • Không theo dõi được quá trình phân chia hay phát triển của vi khuẩn theo thời gian.

→ Muốn xác định hình thức sinh sản cần nuôi cấy và quan sát quá trình phát triển, không chỉ dựa vào nhuộm Gram.


Vi sinh vật có 4 kiểu dinh dưỡng chính, phân loại dựa vào nguồn năng lượng và nguồn cacbon.


Kiểu thứ nhất là quang tự dưỡng: sử dụng ánh sáng làm nguồn năng lượng và CO₂ làm nguồn cacbon. Nhóm này có khả năng quang hợp để tổng hợp chất hữu cơ, ví dụ như vi khuẩn lam và tảo.


Kiểu thứ hai là quang dị dưỡng: sử dụng ánh sáng làm nguồn năng lượng nhưng nguồn cacbon lại là các chất hữu cơ có sẵn. Đại diện là một số vi khuẩn màu lục và màu tía không chứa lưu huỳnh.


Kiểu thứ ba là hóa tự dưỡng: lấy năng lượng từ các phản ứng oxi hóa chất vô cơ (như NH₃, H₂S, Fe²⁺) và sử dụng CO₂ làm nguồn cacbon để tổng hợp chất hữu cơ. Ví dụ là vi khuẩn nitrat hóa và vi khuẩn lưu huỳnh.


Kiểu thứ tư là hóa dị dưỡng: sử dụng chất hữu cơ làm cả nguồn năng lượng và nguồn cacbon. Đây là nhóm phổ biến, gồm nhiều vi khuẩn như E. coli, nấm và động vật nguyên sinh.