Lường Thúy Nguyệt

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Lường Thúy Nguyệt
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1

Ngôi kể của văn bản là :ngôi kể thứ nhất

Câu 2 văn bản được viết theo phong cách ngôn ngữ:ngôn ngữ nghệ thuật

Câu 3:

đặc điểm của thể loại truyện ngắn được thể hiện trong văn bản

Cốt truyện đơn giản, tập trung vào một tình huống chính là việc bắt - thả chim bồng chanh và sự thay đổi nhận thức của nhân vật Hoài.


Câu 4.

Những lời "thầm kêu" cho thấy ở Hoài: Sự hối hận, ăn năn về hành động bắt chim; sự thấu hiểu, đồng cảm với cuộc sống vất vả của loài chim, tình yêu thiên nhiên và ý thức bảo vệ động vật hoang dã đã hình thành trong Hoài.

Câu 5.

Giải pháp bảo vệ các loài động vật hoang dã: đầu tiên chúng ta Giáo dục nhận thức. Tuyên truyền trong nhà trường, gia đình để mọi người, nhất là trẻ em, hiểu giá trị của động vật hoang dã và hậu quả của việc săn bắt.

Pháp luật nghiêm minh: Xử lý nghiêm các hành vi săn bắt, buôn bán động vật hoang dã trái phép.

Bảo vệ môi trường sống Giữ gìn, phục hồi rừng, đầm, ao hồ là nơi sinh sống tự nhiên của các loài.

moiox cá nhân: Không mua bán, nuôi nhốt động vật hoang dã, tố giác hành vi vi phạm,lan tỏa lối sống thân thiện với thiên nhiên.

Câu 1

Văn bản thuộc kiểu văn bản : Thông tin

Câu 2

Đối tượng tượng thông tin được đề cập đến là Vạn Lý Trường Thành

Câu 3

Những dữ liệu mà tác giả đưa ra trong văn bản là dữ liệu thứ cấp

VD:Theo Travel China Guide, Vạn Lý Trường Thành đang "biến mất dần theo năm tháng".

Câu 4

Hình ảnh phi ngôn ngữ hình ảnh vạn trường thành trong văn bản

Tác dụng làm cho văn bản trở nên phong Phú , kết nối cảm xúc , tăng tính thuyết phục , tăng tính trìu tượng,

Tăng tính thuyết phục , hình dung rõ ràng hơn cho người được về hình ảnh vạn lý trường thành

Câu 5

Gợi cho em về một kiến trúc vĩ đại mang tầm vóc quốc tế . Và cả ý nghĩa về lịch sử, văn hóa to lớn va lâu đời của Vạn Ký Trường Thành (Trung Quốc) ở đó các hoa văn đường nét cùng các công trình mang một phongcách cổ xưa của thời phong kiến. Theo thờigian những giá trị ấy đang dần bị đe doạ và cần được tu sửa lạI và bảo tồn ,nếu không tu sửa và bảo tồn những kiến trúc. những dường nét ấy sẽ mất đi và hử hỏng



Câu 1.

Mục đích nghị luận của văn bản

Văn bản nhằm thuyết phục người đọc về tầm quan trọng của việc chú trọng, làm tốt những việc

Câu 2.

Theo văn bản, điều khiến Elon Musk khác biệt

Theo văn bản, bên cạnh khả năng sáng tạo đáng kinh ngạc, điều khiến Elon Musk khác biệt là “sự tập trung đến mức ám ảnh vào các chi tiết và khả năng giải quyết vấn đề ở cấp kỹ thuật trong từng sản phẩm mà ông tạo ra”.

Câu 3.

Mối quan hệ giữa nhan đề Bắt đầu từ việc nhỏ với nội dung văn bản

Cả bài đều xoay quanh việc chứng minh rằng thành công lớn bắt nguồn từ những việc nhỏ. Dẫn chứng Elon Musk, các nhà lãnh đạo Việt Nam đều là người “tập trung cao độ vào từng chi tiết”.nhan đề và nội dung có quan hệ chặt chẽ: nhan đề nêu tư tưởng, nội dung làm rõ và chứng minh tư tưởng đó.


Câu 4.

Tác dụng của ngôn ngữ biểu cảm trong đoạn (2) và (3)

Đoạn (2): “Vì vậy, để có thể biến những giấc mơ lớn thành hiện thực...” Từ “Vì vậy” mang tính khẳng định mạnh mẽ. “Giấc mơ lớn” đối lập “việc nhỏ” tạo ấn tượng, nhấn mạnh tính tất yếu của luận điểm.

Đoạn (3): Sử dụng hình ảnh so sánh “mỗi cá nhân là một tế bào của xã hội, một cơ thể khỏe mạnh cần mỗi bộ phận khỏe mạnh” Gợi hình, dễ hiểu, tăng sức thuyết phục. Các từ “chắc chắn”, “chỉn chu”, “tốt hơn” thể hiện niềm tin, truyền cảm hứng.

tác dụng Ngôn ngữ biểu cảm làm cho lý lẽ không khô khan mà trở nên gần gũi, lay động, thôi thúc người đọc hành động.


Câu 5.

Hai quan điểm không mâu thuẫn, mà bổ sung cho nhau ở hai góc nhìn khác nhậu. Tuổi trẻ cần khát vọng lớn, “máu cuồn cuộn” để bứt phá, nhưng sự bứt phá ấy phải dựa trên nền tảng kỷ luật và trách nhiệm. Nếu không có “khuôn khổ chung” thì khát vọng dễ thành ngông cuồng, phá vỡ. Ngược lại, nếu chỉ có khuôn khổ mà không có khát vọng thì sẽ “bằng phẳng”, tẻ nhạt.

Chủ quyền đất nước là sự đấu tranh bảo vệ từ bao thế hệ của Việt Nam , là sự đánh đổi bằng xương máu, thịt của ông cha ta .Ý thức bảo vệ chủ quyền có tầm quan trọng đặc biệt với thế hệ trẻ ngày nay. Trước hết, đó là nền tảng để giữ gìn toàn vẹn lãnh thổ trong bối cảnh biển Đông còn nhiều phức tạp. Khi mỗi bạn trẻ hiểu đúng về Hoàng Sa, Trường Sa, về biên giới đất liền, ta sẽ không vô cảm trước tin tức chủ quyền và không dễ bị lôi kéo bởi luận điệu xuyên tạc. Thứ hai, ý thức ấy hun đúc lòng yêu nước, trách nhiệm công dân: từ việc học tập tốt để xây dựng đất nước hùng mạnh, đến sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc khi cần. Trong thời đại hội nhập, bảo vệ chủ quyền không chỉ là cầm súng, mà còn là giữ gìn văn hóa, lan tỏa thông tin đúng đắn trên mạng xã hội. Thế hệ trẻ có tri thức, có công nghệ chính là “lá chắn mềm” vững chắc. Vì thế, nuôi dưỡng ý thức bảo vệ chủ quyền hôm nay chính là để đất nước trường tồn ngày mai.

Câu 3

Bài làm

Văn học Việt Nam luôn khắc sâu tình yêu đất nước qua hai mạch cảm hứng lớn, bảo vệ chủ quyền biển đảo và ngợi ca tinh thần kháng chiến. Đoạn trích ‘’Tổ quốc ở Trường Sa “của Nguyễn Việt Chiến và bài thơ “Màu xanhTrường Sơn điều khẳng định tình yêu Tổ quốc và trách nhiệm của mỗi con người với đất nước.

Cả hai tác phẩm đều làm nổi bật tình yêu nước sâu nặng, gắn với sự hy sinh. Tổ quốc ở Trường Sa viết: “Viết bằng máu cả ngàn chương sử đỏ / Khi giặc đến vạn người con quyết tử”. Đó là lời khẳng định lịch sử dân tộc được dựng nên từ máu và lòng quả cảm. Tương tự, Màu xanh Trường Sơn khắc họa màu xanh không chỉ của rừng núi mà còn là màu của ý chí: “Màu xanh thành nhạc / Khi ta qua đèo”, “Màu xanh chói ngời” từ trong đáy mắt con người. Máu và màu xanh cùng là biểu tượng cho sự sống được đánh đổi, gìn giữ,cả hai đều hướng tới hình tượng con người Việt Nam kiên cường. Nếu Nguyễn Việt Chiến ngợi ca “Các con mẹ vẫn ngày đêm bám biển”, “Máu ngư dân trên sóng lại chan hòa” thì Màu xanh Trường Sơn lại khắc tạc hình ảnh người lính: “Ba lô trĩu nặng / Con đường cheo leo / Cơn sốt hùa theo”. Một bên là ngư dân thời bình giữ biển, một bên là bộ đội thời chiến vượt Trường Sơn, Tuy cùng viết về tình yêu nước, hai tác phẩm lại khai thác ở hai không gian và thời gian khác nhau. Tổ quốc ở Trường Sa ra đời năm 2012, giữa lúc chủ quyền biển Đông bị xâm phạm. Vì thế, nội dung tập trung vào biển đảo: “Biển mùa này sóng dữ phía Hoàng Sa”, “Biển Tổ quốc đang cần người giữ biển”. Tác phẩm như một hồi chuông thức tỉnh trách nhiệm công dân thời bình, đặc biệt là thế hệ trẻ, trước vấn đề chủ quyền.Ngược lại, Màu xanh Trường Sơn gắn với cuộc kháng chiến chống Mỹ. Không gian là núi rừng Trường Sơn “mùa mưa suối thành sông rộng”, “mùa khô xém lửa”. Nội dung ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên và con người trong chiến tranh: từ “màu xanh của Bác” đến “màu xanh tiềm tàng” trong đất, trong người. Đó là chất trữ tình - chính luận, khẳng định sức sống mãnh liệt của dân tộc để đi tới chiến thắng.Về tư tưởng, Tổ quốc ở Trường Sa thiên về tính thời sự, kêu gọi hành động trực tiếp: bảo vệ biển. Còn Màu xanh Trường Sơn lại thiên về tính khái quát, triết lý: màu xanh là sức sống, là niềm tin, là tương lai. Một bài hướng ra “sóng dữ”, một bài đi vào “đáy mắt”, “lòng đất”.Dù khác nhau về bối cảnh, cả hai tác phẩm đều góp phần bồi đắp giá trị tinh thần cho dân tộc. Tổ quốc ở Trường Sa là tiếng nói của lương tri trước hiện thực, khơi dậy ý thức công dân. Màu xanh Trường Sơn là khúc tráng ca về một thời “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, nuôi dưỡng niềm tin bất diệt. Đặt cạnh nhau, ta thấy tình yêu nước của người Việt chưa bao giờ đứt đoạn: thời chiến thì “xanh Trường Sơn”, thời bình thì “đỏ Hoàng Sa”.

Hai tác phẩm từ hai điểm nhìn đã cùng làm giàu cho nội dung văn học yêu nước. Chúng nhắc thế hệ hôm nay dù ở Trường Sơn hay Trường Sa, dù trong chiến tranh hay hòa bình, thì trách nhiệm giữ gìn giang sơn luôn thuộc về mỗi người. Đó chính là giá trị bền vững mà văn chương mang lại.


câu 1

Thể thơ của đoạn trích trên là : thể thơ 8 chữ

Câu 2

Một số từ ngữ tiêu biểu thể hiện hình ảnh của biển đảo và đất nước:

Biển đảo: "Biển mùa này sóng dữ phía Hoàng Sa", "biển", "sóng", "ngư dân", "biển Tổ quốc"

Đất nước: "Tổ quốc", "màu cờ nước Việt", "Mẹ Tổ quốc"


Câu 3.

Biện pháp tu so sánh: "Mẹ Tổ quốc vẫn luôn ở bên ta / Như máu ấm trong màu cờ nước Việt"

Tác dụng: so sánh sự việc hiện tượng, tăng sức gợi hình gợi cảm , nhấn mạnh sự hy sinh

So sánh "Mẹ Tổ quốc" với "máu ấm trong màu cờ nước Việt" làm nổi bật , tình yêu cùng sự gần gũi, gắn bó của con người

Nhấn mạnh sự hiện diện, che chở của Tổ quốc đối với người dân, như máu huyết nuôi dưỡng cơ thể.


Câu 4.

Tình cảm của nhà thơ dành cho biển đảo Tổ quốc

Tự hào về truyền thống “khi giặc dden Vạn người con quyết tử’‘ về lịch sử hào hùng viết bằng máu.

Xót xa, biết ơn trước sự hy sinh thầm lặng của ngư dân: “Máu ngư dân trên sóng lại chan hòa”.

Yêu thương, gắn bó sâu nặng với biển đảo: coi Tổ quốc như “Mẹ”, luôn ở bên, như máu ấm trong tim mỗi người.


Câu 5.


Tôi ấn tượng nhất với hình ảnh “Máu ngư dân trên sóng lại chan hòa”. Hình ảnh ấy vừa dữ dội vừa thiêng liêng, cho thấy ngư dân không chỉ đánh cá mưu sinh mà đang chiến đấu giữ từng tấc biển. “Chan hòa” là máu đổ xuống, hòa vào sóng nước, hóa thành lời thề giữ nước. Đau xót nhưng tự hào, vì chính sự hy sinh thầm lặng, ấy đã nhắc chúng ta phải biết ơn và trân trọng chủ quyền biển đảo