Hoàng Bích Ngọc
Giới thiệu về bản thân
Câu 1:
Trong hoạt động phát triển của du lịch của đất nước, việc bảo tồn các di tích lịch sử dân tộc không chỉ là trách nhiệm mà còn là sứ mệnh để giữ gìn bản sắc dân tộc Việt Nam. Di tích lịch sử chính là những công trình, kiến trúc từ lâu đời, là nhân chứng cho tiến trình phát triển của đất nước. Việc bảo tồn các di tích lịch sử cũng là bảo vệ giá trị văn hóa dân tộc, bảo vệ nét đặc sắc riêng của việt nam. Việc bảo tồn các di tích này còn giúp phát triểu du lịch, văn hóa, đời sống tính thần và đặc biệt là kinh tế. Trong khi nhiều di sản được thế giới vinh danh, trở thành động lực phát triển du lịch bền vững, thì vẫn còn đó những di tích bị xuống cấp nghiêm trọng hoặc bị phá hoại bởi quá trình trùng tu sai lệch, làm mất đi cái cốt túy vốn có. Sự xâm hại di tích bằng cách viết vẽ bậy hay xả rác bừa bãi của một bộ phận người dân cũng cho thấy lỗ hổng trong ý thức bảo vệ di sản. Để bảo tồn hiệu quả, chúng ta cần sự hài hòa giữa việc giữ gìn giá trị gốc và phát triển kinh tế. Nhà nước cần có những chính sách trùng tu khoa học, nhưng quan trọng nhất vẫn là sự chuyển biến trong nhận thức của mỗi cá nhân. Mỗi người trẻ cần ý thức rằng, mất đi di tích là mất đi ký ức dân tộc, khiến chúng ta trở nên yếu kém về mặt văn hóa. Bảo tồn di tích chính là giữ cho ngọn lửa lịch sử luôn rực cháy, để những giá trị ngàn năm không chỉ nằm trong sử sách mà luôn hiện hữu.
Câu 2:
Trong dòng chảy của thơ ca hiện đại Việt Nam, nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo hiện lên với sự tài năng của bản thân. Bài thơ "Đồng dao cho người lớn", sáng tác năm 1992, là một tác phẩm độc đáo trong sự nghiệp của ông. Bằng việc mượn hình thức đồng dao của trẻ nhỏ để chuyển tải những suy ngẫm về thế giới của người trưởng thành.
Tác phẩm vừa có sự hồn nhiên của ca dao, vừa cay đắng, đầy rẫy những nghịch lý nhân sinh. Xuyên suốt bài thơ, nghệ thuật điệp cấu trúc với từ "có" xuất hiện liên tục ở đầu mỗi dòng thơ tạo nhịp điệu dồn dập, liệt kê về những hiện tượng của đời sống.
Có cánh rừng chết vẫn xanh trong tôi
Có con người sống mà như qua đời.
Sự tương phản giữa cái chết và cái xanh của ký ức, giữa cái sống và sự qua đời của tâm hồn đã chỉ ra ý nghĩa về cuộc sống, sự đối nghịch giữa. Có nhuengx người đã khuất mà họ vẫn tạo nên giá trị mãi về sau, vẫn mãi hiện hữu trong tâm hồn người đời sau. Những kẻ sống mà tâm hồn băng giá, vô cảm thì cũng chỉ như bóng ma trên cõi đời này. Nguyễn Trọng Tạo tiếp tục đào sâu góc khuất của xa hội của kiếp người bằng những cặp hình ảnh đối lập sắc nét.
Có câu trả lời biến thành câu hỏi
Có kẻ ngoại tình ngỡ là tiệc cưới
Tác giả đã phơi bày một thực trạng xã hội đầy những giá trị ảo, nơi con người không phân định được đúng - sai, hạnh phúc - khổ đau.
có cả đất trời mà không nhà cửa
có vui nho nhỏ có buồn mênh mông
Câu ca dao này đã thể hiện con người hiện đại dường như càng sở hữu nhiều không gian rộng lớn bao nhiêu lại càng thấy cô đơn, thiếu vắng một mái nhà tinh thần bấy nhiêu. Sự nghịch lý ấy là minh chứng cho việc giàu có vật chất mà nghèo nàn tinh thần.
mà thuyền vẫn sông mà xanh vẫn cỏ
mà đời vẫn say mà hồn vẫn gió.
Chữ "mà" vang lên như một sự khẳng định bản lĩnh. Là câu ca dao duy nhất trong bài có suy nghĩ tích cực. Sự đời đâu lắm chuyện xấu thế, có kẻ xấu người tốt,...đó mới là đời.Dẫu thế giới có thay đổi, tình đời có bạc bẽo, thì quy luật tự nhiên vẫn vĩnh hằng, và bản chất con người vẫn khao khát được tự do. Đây chính là tinh thần nhân văn cao cả mà tác giả gửi gắm.
Khép lại bài thơ, tác giả đưa chúng ta về với những cảm xúc bản nguyên nhất: "có thương có nhớ có khóc có cười". Đó chính là những chất liệu tạo nên con người. Câu thơ cuối cùng: "có cái chớp mắt đã nghìn năm trôi" mang đậm màu sắc triết học phương Đông về sự vô thường. Đời người thực chất chỉ là một khoảnh khắc hữu hạn giữa dòng thời gian vô tận. Cái chớp mắt ấy nhắc nhở chúng ta hãy sống sao cho xứng đáng, hãy trân trọng từng phút giây hiện tại thay vì mải mê đuổi theo những giá trị phù phiếm. Bằng ngôn ngữ giản dị nhưng giàu sức gợi, nhịp điệu đồng dao biến hóa linh hoạt, bài thơ "Đồng dao cho người lớn" đã vượt xa ý nghĩa của một bài hát dạo chơi. Nó là bản nhạc nhân sinh chứa đựng cả những đắng cay và hy vọng, buộc mỗi người đọc phải dừng lại, suy ngẫm về cách mình đang sống và đang nhìn nhận thế giới. Nguyễn Trọng Tạo đã thực sự thành công khi dùng cái vỏ bọc hồn nhiên để chuyên chở một nội dung tư tưởng sâu sắc và đầy trăn trở.
Câu 1:
Trong hoạt động phát triển của du lịch của đất nước, việc bảo tồn các di tích lịch sử dân tộc không chỉ là trách nhiệm mà còn là sứ mệnh để giữ gìn bản sắc dân tộc Việt Nam. Di tích lịch sử chính là những công trình, kiến trúc từ lâu đời, là nhân chứng cho tiến trình phát triển của đất nước. Việc bảo tồn các di tích lịch sử cũng là bảo vệ giá trị văn hóa dân tộc, bảo vệ nét đặc sắc riêng của việt nam. Việc bảo tồn các di tích này còn giúp phát triểu du lịch, văn hóa, đời sống tính thần và đặc biệt là kinh tế. Trong khi nhiều di sản được thế giới vinh danh, trở thành động lực phát triển du lịch bền vững, thì vẫn còn đó những di tích bị xuống cấp nghiêm trọng hoặc bị phá hoại bởi quá trình trùng tu sai lệch, làm mất đi cái cốt túy vốn có. Sự xâm hại di tích bằng cách viết vẽ bậy hay xả rác bừa bãi của một bộ phận người dân cũng cho thấy lỗ hổng trong ý thức bảo vệ di sản. Để bảo tồn hiệu quả, chúng ta cần sự hài hòa giữa việc giữ gìn giá trị gốc và phát triển kinh tế. Nhà nước cần có những chính sách trùng tu khoa học, nhưng quan trọng nhất vẫn là sự chuyển biến trong nhận thức của mỗi cá nhân. Mỗi người trẻ cần ý thức rằng, mất đi di tích là mất đi ký ức dân tộc, khiến chúng ta trở nên yếu kém về mặt văn hóa. Bảo tồn di tích chính là giữ cho ngọn lửa lịch sử luôn rực cháy, để những giá trị ngàn năm không chỉ nằm trong sử sách mà luôn hiện hữu.
Câu 2:
Trong dòng chảy của thơ ca hiện đại Việt Nam, nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo hiện lên với sự tài năng của bản thân. Bài thơ "Đồng dao cho người lớn", sáng tác năm 1992, là một tác phẩm độc đáo trong sự nghiệp của ông. Bằng việc mượn hình thức đồng dao của trẻ nhỏ để chuyển tải những suy ngẫm về thế giới của người trưởng thành.
Tác phẩm vừa có sự hồn nhiên của ca dao, vừa cay đắng, đầy rẫy những nghịch lý nhân sinh. Xuyên suốt bài thơ, nghệ thuật điệp cấu trúc với từ "có" xuất hiện liên tục ở đầu mỗi dòng thơ tạo nhịp điệu dồn dập, liệt kê về những hiện tượng của đời sống.
Có cánh rừng chết vẫn xanh trong tôi
Có con người sống mà như qua đời.
Sự tương phản giữa cái chết và cái xanh của ký ức, giữa cái sống và sự qua đời của tâm hồn đã chỉ ra ý nghĩa về cuộc sống, sự đối nghịch giữa. Có nhuengx người đã khuất mà họ vẫn tạo nên giá trị mãi về sau, vẫn mãi hiện hữu trong tâm hồn người đời sau. Những kẻ sống mà tâm hồn băng giá, vô cảm thì cũng chỉ như bóng ma trên cõi đời này. Nguyễn Trọng Tạo tiếp tục đào sâu góc khuất của xa hội của kiếp người bằng những cặp hình ảnh đối lập sắc nét.
Có câu trả lời biến thành câu hỏi
Có kẻ ngoại tình ngỡ là tiệc cưới
Tác giả đã phơi bày một thực trạng xã hội đầy những giá trị ảo, nơi con người không phân định được đúng - sai, hạnh phúc - khổ đau.
có cả đất trời mà không nhà cửa
có vui nho nhỏ có buồn mênh mông
Câu ca dao này đã thể hiện con người hiện đại dường như càng sở hữu nhiều không gian rộng lớn bao nhiêu lại càng thấy cô đơn, thiếu vắng một mái nhà tinh thần bấy nhiêu. Sự nghịch lý ấy là minh chứng cho việc giàu có vật chất mà nghèo nàn tinh thần.
mà thuyền vẫn sông mà xanh vẫn cỏ
mà đời vẫn say mà hồn vẫn gió.
Chữ "mà" vang lên như một sự khẳng định bản lĩnh. Là câu ca dao duy nhất trong bài có suy nghĩ tích cực. Sự đời đâu lắm chuyện xấu thế, có kẻ xấu người tốt,...đó mới là đời.Dẫu thế giới có thay đổi, tình đời có bạc bẽo, thì quy luật tự nhiên vẫn vĩnh hằng, và bản chất con người vẫn khao khát được tự do. Đây chính là tinh thần nhân văn cao cả mà tác giả gửi gắm.
Khép lại bài thơ, tác giả đưa chúng ta về với những cảm xúc bản nguyên nhất: "có thương có nhớ có khóc có cười". Đó chính là những chất liệu tạo nên con người. Câu thơ cuối cùng: "có cái chớp mắt đã nghìn năm trôi" mang đậm màu sắc triết học phương Đông về sự vô thường. Đời người thực chất chỉ là một khoảnh khắc hữu hạn giữa dòng thời gian vô tận. Cái chớp mắt ấy nhắc nhở chúng ta hãy sống sao cho xứng đáng, hãy trân trọng từng phút giây hiện tại thay vì mải mê đuổi theo những giá trị phù phiếm. Bằng ngôn ngữ giản dị nhưng giàu sức gợi, nhịp điệu đồng dao biến hóa linh hoạt, bài thơ "Đồng dao cho người lớn" đã vượt xa ý nghĩa của một bài hát dạo chơi. Nó là bản nhạc nhân sinh chứa đựng cả những đắng cay và hy vọng, buộc mỗi người đọc phải dừng lại, suy ngẫm về cách mình đang sống và đang nhìn nhận thế giới. Nguyễn Trọng Tạo đã thực sự thành công khi dùng cái vỏ bọc hồn nhiên để chuyên chở một nội dung tư tưởng sâu sắc và đầy trăn trở.
Câu 1. Thể thơ: Tự do
Dấu hiệu: các câu thơ có độ dài ngắn khác nhau.
Câu 2. Từ ngữ tiêu biểu về hình ảnh biển đảo và đất nước Biển đảo: Sóng dữ, phía Hoàng Sa, bám biển, biển Tổ quốc, giữ biển, sóng. Đất nước:Tổ quốc, cờ nước Việt, Tổ quốc. Câu 3.
Biện pháp tu từ so sánh trong 2 câu sau "Mẹ Tổ quốc vẫn luôn ở bên ta / Như máu ấm trong màu cờ nước Việt". Có tác dụng: Gợi tả sự gắn giữa tổ quốc và mỗi người dân, như hòa cùng vào cơ thể của nhân dân. Thể hiện lòng yêu nước và khơi gợi lòng yêu nước trong con người Việt Nam. Ngoài ra còn tăng sức biểu cảm, gợi tả, gợi hình, giúp độc giả dễ hiểu hơn. Câu 4. Tình cảm của nhà thơ dành cho biển đảo: Lòng yêu nước thiết tha, và sự gắn bó với chủ quyền biển đảo. Sự biết ơn, trước những hy sinh thầm lặng của những ngư dân và những người chiến sĩ nơi biển đảo xa xôi. Cùng với đo là niềm tự hào về tinh thần, ý chí, sức sống của dân tộc ta qua bao thăng trầm lịch sử. Câu 5: Bảo vệ chủ quyền biển đảo quê hương không chỉ là nhiệm vụ của những người chiến sĩ đầu sóng ngọn gió mà còn là trách nhiệm của mỗi người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ. Trước hết, chúng ta cần chủ động học tập, tìm hiểu để có nhận thức đúng đắn về lịch sử và chủ quyền lãnh thổ quốc gia. Bên cạnh đó, nỗ lực rèn luyện bản thân để xây dựng đất nước giàu mạnh chính là cách bền vững nhất để khẳng định vị thế dân tộc. Đứng trước những thử thách của thời đại, lòng yêu nước cần được cụ thể hóa bằng hành động thực tế, trách nhiệm và sự đoàn kết một lòng của nhân dân.
Câu 1. Thể thơ: Tự do
Dấu hiệu: các câu thơ có độ dài ngắn khác nhau.
Câu 2. Từ ngữ tiêu biểu về hình ảnh biển đảo và đất nước Biển đảo: Sóng dữ, phía Hoàng Sa, bám biển, biển Tổ quốc, giữ biển, sóng. Đất nước:Tổ quốc, cờ nước Việt, Tổ quốc. Câu 3.
Biện pháp tu từ so sánh trong 2 câu sau "Mẹ Tổ quốc vẫn luôn ở bên ta / Như máu ấm trong màu cờ nước Việt". Có tác dụng: Gợi tả sự gắn giữa tổ quốc và mỗi người dân, như hòa cùng vào cơ thể của nhân dân. Thể hiện lòng yêu nước và khơi gợi lòng yêu nước trong con người Việt Nam. Ngoài ra còn tăng sức biểu cảm, gợi tả, gợi hình, giúp độc giả dễ hiểu hơn. Câu 4. Tình cảm của nhà thơ dành cho biển đảo: Lòng yêu nước thiết tha, và sự gắn bó với chủ quyền biển đảo. Sự biết ơn, trước những hy sinh thầm lặng của những ngư dân và những người chiến sĩ nơi biển đảo xa xôi. Cùng với đo là niềm tự hào về tinh thần, ý chí, sức sống của dân tộc ta qua bao thăng trầm lịch sử. Câu 5: Bảo vệ chủ quyền biển đảo quê hương không chỉ là nhiệm vụ của những người chiến sĩ đầu sóng ngọn gió mà còn là trách nhiệm của mỗi người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ. Trước hết, chúng ta cần chủ động học tập, tìm hiểu để có nhận thức đúng đắn về lịch sử và chủ quyền lãnh thổ quốc gia. Bên cạnh đó, nỗ lực rèn luyện bản thân để xây dựng đất nước giàu mạnh chính là cách bền vững nhất để khẳng định vị thế dân tộc. Đứng trước những thử thách của thời đại, lòng yêu nước cần được cụ thể hóa bằng hành động thực tế, trách nhiệm và sự đoàn kết một lòng của nhân dân.
Câu 1:
BÀI LÀM
Trong thế giới không ngừng phát tiển, trở thành phiên bản tốt hơn của chính mình mỗi ngày chính là mục tiêu, trách nhiệm với bản thân. Đây cũng chính là chìa khóa để mở ra cánh cửa của sự thành công bền vững. Cuộc sốg như 1 dòng chảy, nếu ta không tiến lên, ta sẽ bị tụt lại phía sau. Việc tự nâng cấp giúp ta thích nghi với những thử thách mới và vượt qua những giới hạn của bản thân, sự tiến bộ tạo ra lòng tự trọng, giá trị, đặc điểm riêng cho bản thân. Nhưng đây cũng là hành trình khó khăn nhất khi trở ngại chính của bạn lại chính là bản thân bạn: lười, ỷ lại, trì hoãn,...đó là những vấn đề căn bản nhất nhueng lại khó thân đổi nhất, bạn cần phải vượt qua chính mình được thì mới có thể gọi là tiến bộ. Tuy nhiên, trở thành phiên bản tốt hơn không nhất thiết phải là những bước nhảy vọt thần kỳ. Đó là sức mạnh của triết lý 1% não bộ với 99% nỗ lực, như việc đặn như đọc thêm một trang sách, học thêm 1 kiến thức mới, hay rèn luyện kỷ luật mỗi ngày... Những thay đổi nhỏ này, khi tích tụ lại, sẽ tạo nên một sự chuyển mình mạnh mẽ. Tóm lại, hành trình nâng cấp bản thân chưa bao giờ là dễ, hãy bắt đầu để trở nên hoàn hảo hơn. Bạn của ngày hôm nay chính là đối thủ lớn nhất mà bạn cần vượt qua để chạm tới đỉnh cao của chính mình.
CÂU 2:
BÀI LÀM
Văn học Việt Nam từ xưa đến nay luôn dành 1 vị thế đặc biết để viết về thân phận người phụ nữ. Nếu như Nam Cao trong truyện ngắn "Dì Hảo" đào sâu vào nỗi đau của 1 kiếp người dưới ách thống trị của xã hội cũ, thì Nguyễn Khải trong "Mùa lạc" lại thắp lên ánh sáng của niềm tin và sự lạc quan. Qua 2 đoạn trích đoạn trên, ta thấy được sự chuyển biến từ cuộc sống bế tắc đến khát vọng sống mãnh liệt của người phụ nữ Việt Nam qua hai thời đại. Trước hết, cả dì Hảo và chị Đào đều là những điển hình cho số phận bất hạnh, chịu nhiều vấp ngã trong cuộc đời. Họ đều có ở điểm chung của người phụ nữ Việt Nam truyền thống lad tần tảo, nhẫn nhịn và giàu đức hy sinh. Cả hai đều nếm trải nỗi đau mất con, nỗi đau lớn nhất của người mẹ. Dì Hảo có đứa con chết rồi dì tê liệt, chị Đào cũng mất con khi đứa bé mới lên 2 tuổi. Thêm vào đó, sự bạc bẽo của người chồng như nhát dao cứa thêm vào vết thương lòng của họ. Một người chồng coi vợ là công cụ kiếm tiền để phục vụ thói rượu chè như chồng dì Hảo, hay người chồng cờ bạc nợ nần rồi bỏ mạng như chồng chị Đào, đều đẩy họ vào cảnh ngộ bơ vơ, không điểm tựa giữa dòng đời. Tuy nhiên, đi sâu vào từng trích đoạn, ta thấy sự khác biệt rõ rệt trong cách tiếp cận và giải quyết bi kịch của hai nhà văn. Ở đoạn trích "Dì Hảo", Nam Cao tập trung khai thác sự tha hóa và cái chết dần mòn về tinh thần. Dưới ngòi bút hiện thực sắc lạnh, dì Hảo hiện lên là 1 con ng tội nghiệp bị tước đoạt mọi quyền sống, mọi sự hấp dẫn cho dì tồn tại. Bi kịch của dì không chỉ là cái nghèo mà là sự nhẫn nhục đến mê muội. Dì "nghiến chặt răng để khỏi khóc" nhưng rồi lại "khóc như người ta thổ". Hình ảnh "thổ ra nước mắt" là một sáng tạo độc đáo, diễn tả sự kiệt quệ, đau đơan đến tận cùng cả về thể xác lẫn tinh thần. Dì không trách cứ người chồng tàn nhẫn vì dì cho rằng đó là số phận của mình. Ngược lại, "Mùa lạc" của Nguyễn Khải lại mang âm hưởng lạc quan và triết lý nhân sinh cao đẹp của thời đại mới. Chị Đào cũng từng có quá khứ kinh hoàng, "tối đâu là nhà, ngã đâu là giường", từng muốn chết vì quá khổ đơn độc. Thế nhưng, khác với dì Hảo, chị Đào đã chủ động bước qua ngã rẽ của định mệnh. Sự thay đổi môi trường sống, từ những chuyến buôn ngược bán xuôi lẻ bóng sang tập thể lao động tại nông trường đã làm thay đổi tâm thế của dì, dì Khải đã nâng tầm số phận cá nhân lên thành một quy luật tất yếu: "Sự sống nảy sinh từ cái chết, hạnh phúc hiện hình từ trong những hy sinh, gian khổ". Chị Đào không còn khóc nấc lên trong bất lực như dì Hảo, mà chị tìm thấy quê hương thứ hai và sức mạnh để chạm tay vào hạnh phúc. Sự khác biệt giữa hai trích đoạn trước hết đến từ góc nhìn nghệ thuật của tác giả và hoàn cảnh lịch sử. Nam Cao viết về dì Hảo bằng bút pháp hiện thực tâm lý sắc sảo, nhấn mạnh vào sự bế tắc để tố cáo xã hội cũ tàn ác. Nguyễn Khải viết về chị Đào bằng bút pháp lãng mạn kết hợp triết luận, khẳng định sức mạnh của con người trong chế độ mới. Nếu dì Hảo là nhân vật của sự cam chịu, thì chị Đào là nhân vật của sự vượt thoát. Tóm lại, hai trích đoạn là hai thái cực khác nhau về số phận ng phụ nữ, nhưng đều chân thực về người phụ nữ Việt Nam. Dì Hảo khiến ta xót xa trước một kiếp người bị vùi dập trong bóng tối, còn chị Đào đem lại niềm hy vọng về khả năng tự tái tạo hạnh phúc của con người từ đống tro tàn quá khứ.
Câu 1: Mục đích nghị luận của văn bản Tầm quan trọng của việc chỉn chu, trách nhiệm trong từng việc nhỏ. Để đạt được những hoài bão lớn lao hay đóng góp cho xã hội, mỗi cá nhân cần bắt đầu từ việc hoàn thiện chính mình và làm tốt những việc dù chỉ nhỏ nhất Câu 2: Điều khiến Elon Musk trở nên khác biệt: Sự tập trung đến mức ám ảnh vào các chi tiết Khả năng giải quyết vấn đề ở cấp kỹ thuật trong từng sản phẩm Câu 3: Mối quan hệ giữa nhan đề và nội dung: Nhan đề là cốt lõi, là thông điệp xuyên suốt, định hướng cho toàn bộ đoạn văn Nội dung thì làm sáng tỏ nhan đề Câu 4: Tác dụng của ngôn ngữ biểu cảm trong đoạn (2) và (3): Tạo sự gần gũi, truyền cảm hứng và khơi gợi ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân, cũng như giá trị của mỗi con ng Làm cho lý lẽ bớt khô khan, câu văn trở nên hấp dẫn người đọc
Câu 1
Bài làm
Bé Gái trong truyện ngắn Nhà Nghèo là đại diện cho những đứa trê nông thôn thời bấy giờ, em đã sống 1 cuộc đời khốn khổ, cha mẹ đánh cãi chửi nhau như cơm bữa, em bị coi là " của nợ" là nguyên nhân của những cuộc bạo lực trong gia đình. Tuy nhiên, em k cam chịu, e là đứa hiểu chuyện, tự lâhp, nhạy cảm, khóc thút thít mỗi lần cha mẹ cãi nhau, dù còn nhỏ nhưng em đã biết phụ giúp gia đình: nấu cơm, xin lửa, trông em... Khi em tham gia bắt nhái