♡☁️∘₊✧ Nguyễn Minh Hiền ✧₊∘☁️♡
Giới thiệu về bản thân
10 bạn có: 10 x 9=90 (cái bánh)
-Cấu trúc chung: Bề mặt chủ yếu là các khối cao nguyên (sơn nguyên) rộng lớn, độ cao trung bình 750m so với mực nước biển, tạo thành khối lục địa có địa hình đơn giản và bằng phẳng.
-Độ nghiêng: Địa hình có xu hướng thấp dần từ Đông Nam lên Tây Bắc.
-Các dạng địa hình chính:
+Sơn nguyên: Phân bố rộng khắp, đặc biệt ở phía Đông và Trung tâm.
+Bồn địa: Xen kẽ các sơn nguyên, là những vùng trũng thấp (ví dụ Bồn địa Công-gô).
+Hoang mạc: Chiếm diện tích lớn, đặc biệt là Xa-ha-ra ở Bắc Phi và Kalahari ở Nam Phi, hình thành do khí hậu khô nóng.
+Núi thấp: Xuất hiện ở rìa lục địa, như dãy At-lát ở Bắc Phi, núi thấp ở phía Đông Nam.
+Thung lũng sâu và hồ hẹp: Nổi bật ở Đông Phi do hoạt động nứt vỡ nền mảng kiến tạo (Vùng Đại Tanganyika, Victoria).
***Khoáng sản Châu Phi:-Sự giàu có: Châu Phi sở hữu nguồn tài nguyên khoáng sản vô cùng phong phú và đa dạng, nhiều loại có trữ lượng lớn trên thế giới.
-Phân bố chính:
+Kim loại quý (Vàng, Kim cương, U-ra-ni-um): Tập trung chủ yếu ở Nam Phi và các vùng lân cận (khối kiến tạo cổ).
+Sắt, Đồng, Mangan, Crom: Phân bố rải rác, đặc biệt ở Nam Phi và các khu vực có nền đá cổ.
+Dầu mỏ và Khí đốt: Tập trung ở Bắc Phi (Ai Cập, Algeria, Libya) và ven vịnh Ghi-nê.
+Phốt phát: Có trữ lượng lớn, chủ yếu ở khu vực Bắc Phi.
Sự hình thành và mở rộng hệ thống CNXH ở Đông Âu sau Thế chiến II được tạo điều kiện bởi thắng lợi của phe Đồng minh (trong đó có Liên Xô) chống phát xít, tạo ra khoảng trống quyền lực và sự suy yếu của các nước tư bản; sự giúp đỡ và ảnh hưởng của Liên Xô với tư cách là cường quốc CNXH; cùng với sự bùng nổ mạnh mẽ của các lực lượng cách mạng, dân tộc ở Đông Âu, mong muốn thay đổi chế độ cũ, và sự ra đời của trật tự thế giới hai cực mà Liên Xô là trụ cột, tạo nên hệ thống Xã hội chủ nghĩa (Xã hội chủ nghĩa) thế giới
cày đề cương toán 6 tờ
tao hỏi, trong Hiến pháp 2013, Điều 25:
“Công dân có quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật.”
nen cần j ai hỏi
Hiệu ứng nhà kính là hiện tượng các khí trong khí quyển giữ lại nhiệt từ Mặt Trời, làm Trái Đất ấm lên. Hiện tượng này giúp duy trì sự sống, nhưng nếu quá mạnh sẽ gây nóng lên toàn cầu và biến đổi khí hậu.
Việt Nam và Lào có mối quan hệ hữu nghị truyền thống lâu đời, được hình thành và củng cố trong suốt quá trình lịch sử, đặc biệt là từ thời Vương quốc Lào (Lan Xang). Hai nước luôn hợp tác về chính trị, quân sự, kinh tế và văn hóa, giúp đỡ nhau chống ngoại xâm, đồng thời trao đổi văn hóa, phong tục, tập quán. Mối quan hệ này thể hiện tinh thần anh em, gắn bó về lịch sử, địa lý và văn hóa. Hiện nay, để giữ gìn và phát huy mối quan hệ hữu nghị đặc biệt này, học sinh cần tích cực học tập lịch sử và văn hóa hai nước, tham gia các hoạt động giao lưu văn hóa, thể thao, học thuật, tôn trọng và quảng bá truyền thống của cả hai dân tộc, đồng thời rèn luyện đạo đức và tinh thần hợp tác. Việc làm này không chỉ giúp củng cố tình hữu nghị Việt – Lào mà còn góp phần xây dựng hòa bình, hợp tác và phát triển chung trong tương lai.
Thành tựu văn hóa Đông Nam Á (nửa sau thế kỉ X – nửa đầu thế kỉ XVI)
-Văn học:
+Truyện dân gian, sử thi, thơ ca phát triển.
+Nội dung gắn với tôn giáo, giáo dục đạo đức và lưu truyền truyền thống.
+Ví dụ: Việt Nam có Truyền kì mạn lục, Thái Lan có sử thi và thơ ca Phật giáo.
-Kiến trúc và điêu khắc:
+Đền, chùa, cung điện, tượng và phù điêu tinh xảo.
+Kết hợp phong cách bản địa và ảnh hưởng Hindu – Phật giáo.
+Ví dụ: Campuchia có đền Angkor, Indonesia có đền Borobudur và Prambanan.
-Tôn giáo:
+Chi phối đời sống tinh thần, nghệ thuật và văn học.
+Phát triển mạnh mẽ, trở thành trung tâm văn hóa.
+Ví dụ: Myanmar (Miến Điện) phát triển Phật giáo, Thái Lan theo Phật giáo Nguyên thủy.
-Âm nhạc – sân khấu:
+Hình thành và phát triển, phản ánh đời sống và tín ngưỡng.
+Ví dụ: Việt Nam có chèo, tuồng; Thái Lan có múa rối và nhạc cung đình.
*Nhận xét chung:
-Văn hóa Đông Nam Á gắn chặt với tôn giáo và truyền thống bản địa.
-Nổi bật ở kiến trúc, điêu khắc và văn học, tạo nên nền văn hóa phong phú, đa dạng và có giá trị lịch sử lâu bền.
Trần Tế Xương là một trong những nhà thơ trào phúng xuất sắc của văn học Việt Nam cuối thế kỉ XIX. Thơ ông thường dùng tiếng cười châm biếm để phơi bày những thói hư tật xấu của xã hội đương thời. Bài thơ “Năm mới chúc nhau” là một tác phẩm tiêu biểu, qua đó nhà thơ đã vạch trần sự giả dối, thực dụng ẩn sau những lời chúc Tết tưởng như tốt đẹp.
Mở đầu mỗi khổ thơ là cụm từ “Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau”, tạo nên giọng điệu mỉa mai, châm chọc. Nhà thơ không trực tiếp tham gia vào những lời chúc mà đứng ngoài quan sát, “lẳng lặng nghe” để nhận ra bản chất thật sự của chúng. Cách xưng hô “nó” thể hiện thái độ coi thường, chán ghét trước những lời chúc sáo rỗng, hình thức.
Ở khổ thơ đầu, lời chúc sống lâu được đưa ra: “Chúc nhau trăm tuổi bạc đầu râu”. Đây vốn là lời chúc quen thuộc trong dịp đầu năm, nhưng dưới ngòi bút của Tú Xương lại trở nên đầy tính vụ lợi. Hình ảnh “ông quyết đi buôn cối” để phục vụ những người già ăn trầu đã phơi bày sự thực dụng của người chúc. Lời chúc không xuất phát từ tình cảm chân thành mà chỉ là cái cớ để mưu cầu lợi ích cá nhân.
Sang khổ thơ thứ hai, tác giả châm biếm lời chúc giàu sang. Ước mơ tiền bạc được phóng đại đến mức phi lí với “trăm, nghìn, vạn mớ”, kèm theo những hình ảnh mê tín như “gà ăn bạc”. Qua đó, nhà thơ đả kích lòng tham không đáy và sự mê muội chạy theo đồng tiền của con người trong xã hội cũ.
Khổ thơ thứ ba là lời chúc “sang”, nhưng thực chất là lời tố cáo xã hội mục nát, nơi quan tước có thể mua bán: “Đứa thì mua tước, đứa mua quan”. Danh vọng không còn gắn với tài năng hay đạo đức mà trở thành món hàng trao đổi. Tiếng cười trào phúng ở đây mang tính đả kích sâu sắc đối với chế độ phong kiến suy tàn.
Đến khổ thơ cuối, lời chúc đông con được đặt trong hoàn cảnh thực tế đầy mâu thuẫn. Mong muốn “sinh năm đẻ bảy” đối lập với cảnh “phố phường chật hẹp, người đông đúc”. Câu thơ kết vừa hài hước vừa chua chát, cho thấy sự bất cập giữa ước vọng và đời sống thực tế của xã hội đương thời.
Qua bài thơ “Năm mới chúc nhau”, Trần Tế Xương đã dùng tiếng cười trào phúng để phê phán những lời chúc Tết giả tạo, đồng thời phản ánh một xã hội đầy rối ren, thực dụng và suy đồi. Tiếng cười trong thơ ông không chỉ nhằm chế giễu thói đời mà còn thể hiện nỗi xót xa, đau đớn của một nhà thơ có tâm huyết trước thời cuộc. Chính điều đó đã làm nên giá trị hiện thực và sức sống bền lâu của tác phẩm.
Trần Tế Xương là một trong những nhà thơ trào phúng xuất sắc của văn học Việt Nam cuối thế kỉ XIX. Thơ ông thường dùng tiếng cười châm biếm để phơi bày những thói hư tật xấu của xã hội đương thời. Bài thơ “Năm mới chúc nhau” là một tác phẩm tiêu biểu, qua đó nhà thơ đã vạch trần sự giả dối, thực dụng ẩn sau những lời chúc Tết tưởng như tốt đẹp.
Mở đầu mỗi khổ thơ là cụm từ “Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau”, tạo nên giọng điệu mỉa mai, châm chọc. Nhà thơ không trực tiếp tham gia vào những lời chúc mà đứng ngoài quan sát, “lẳng lặng nghe” để nhận ra bản chất thật sự của chúng. Cách xưng hô “nó” thể hiện thái độ coi thường, chán ghét trước những lời chúc sáo rỗng, hình thức.
Ở khổ thơ đầu, lời chúc sống lâu được đưa ra: “Chúc nhau trăm tuổi bạc đầu râu”. Đây vốn là lời chúc quen thuộc trong dịp đầu năm, nhưng dưới ngòi bút của Tú Xương lại trở nên đầy tính vụ lợi. Hình ảnh “ông quyết đi buôn cối” để phục vụ những người già ăn trầu đã phơi bày sự thực dụng của người chúc. Lời chúc không xuất phát từ tình cảm chân thành mà chỉ là cái cớ để mưu cầu lợi ích cá nhân.
Sang khổ thơ thứ hai, tác giả châm biếm lời chúc giàu sang. Ước mơ tiền bạc được phóng đại đến mức phi lí với “trăm, nghìn, vạn mớ”, kèm theo những hình ảnh mê tín như “gà ăn bạc”. Qua đó, nhà thơ đả kích lòng tham không đáy và sự mê muội chạy theo đồng tiền của con người trong xã hội cũ.
Khổ thơ thứ ba là lời chúc “sang”, nhưng thực chất là lời tố cáo xã hội mục nát, nơi quan tước có thể mua bán: “Đứa thì mua tước, đứa mua quan”. Danh vọng không còn gắn với tài năng hay đạo đức mà trở thành món hàng trao đổi. Tiếng cười trào phúng ở đây mang tính đả kích sâu sắc đối với chế độ phong kiến suy tàn.
Đến khổ thơ cuối, lời chúc đông con được đặt trong hoàn cảnh thực tế đầy mâu thuẫn. Mong muốn “sinh năm đẻ bảy” đối lập với cảnh “phố phường chật hẹp, người đông đúc”. Câu thơ kết vừa hài hước vừa chua chát, cho thấy sự bất cập giữa ước vọng và đời sống thực tế của xã hội đương thời.
Qua bài thơ “Năm mới chúc nhau”, Trần Tế Xương đã dùng tiếng cười trào phúng để phê phán những lời chúc Tết giả tạo, đồng thời phản ánh một xã hội đầy rối ren, thực dụng và suy đồi. Tiếng cười trong thơ ông không chỉ nhằm chế giễu thói đời mà còn thể hiện nỗi xót xa, đau đớn của một nhà thơ có tâm huyết trước thời cuộc. Chính điều đó đã làm nên giá trị hiện thực và sức sống bền lâu của tác phẩm.