Bùi Thị Nguyệt Ánh 01/07/2009

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Bùi Thị Nguyệt Ánh 01/07/2009
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1.

a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn:

- Yêu cầu về hình thức: đoạn văn.

- Yêu cầu về dung lượng: 200 chữ.

Học sinh có thể trình bày theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp, móc xích hoặc song hành.

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: 

Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: ý nghĩa của tính sáng tạo đối với thế hệ trẻ hiện nay.

c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận:

- Gợi ý: Tính sáng tạo có ý nghĩa như sau:

+ Giúp mỗi cá nhân phát huy được thế mạnh của bản thân. 

+ Giúp mỗi cá nhân giải quyết vấn đề một cách tốt nhất.

+ Tạo ra những sản phẩm hữu ích cho nhân loại.

+ Góp phần xây dựng xã hội ngày càng phát triển.

- Sắp xếp được hệ thống ý hợp lí theo đặc điểm bố cục của kiểu văn bản.

d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau:

- Lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.

- Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.

- Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng; bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng.

đ. Diễn đạt:

Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết trong đoạn.

e. Sáng tạo:

Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.

Câu 2.

a. Xác định được yêu cầu về kiểu bài: nghị luận văn học.

b. Xác định đúng yêu cầu của đề: cảm nhận về vẻ đẹp con người Nam Bộ trong truyện Biển người mênh mông qua nhân vật Phi và ông Sáu Đèo.

c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm:

Gợi ý:

- Giới thiệu ngắn gọn về tác giả, tác phẩm và vấn đề nghị luận.

- Nêu và phân tích cảm nhận về con người Nam Bộ qua nhân vật Phi và ông Sáu Đèo:

+ Những con người nhỏ bé, bất hạnh, lưu lạc:

Phi: không có cha, là kết quả cưỡng bức của tên đồn trưởng với mẹ Phi; không được người mà Phi gọi là cha thừa nhận; năm tuổi rưỡi đã thui thủi ở với bà ngoại; người mẹ vô tâm; chỉ có bà ngoại quan tâm, nhưng rồi bà mất, kể từ đó sống tạm bợ, lôi thôi.

Ông Sáu Đèo: không con cái, làm bạn với con chim bìm bịp; vợ bỏ đi đã lâu; ông Sáu Đèo nay đây mai đó ở tuổi xế chiều.

+ Những con người kiếm tìm, khao khát hạnh phúc:

Phi khao khát tình cảm của cha, mẹ, tình thân. Cuộc đời anh cũng là một hành trình âm thầm tìm kiếm tình thân. Cuộc gặp gỡ với ông Sáu Đèo đã sưởi ấm tâm hồn anh bởi sự quan tâm của ông dành cho Phi. 

Ông Sáu Đèo với hành trình tìm kiếm người vợ của mình: ông đã đi tìm vợ suốt gần bốn mươi năm, dời nhà cả thảy ba mươi ba bận, bỏ cả sông nước vốn gắn bó như máu thịt, lên bờ để nói lời xin lỗi vợ. 

=> Trên hành trình tìm kiếm khát khao hạnh phúc đó, con người Nam Bộ cho ta thấy tình yêu và sự gắn bó sâu nặng với quê hương xứ sở, tình cảm thủy chung son sắt, tấm lòng yêu thương, vị tha,...

+ Nghệ thuật thể hiện nhân vật con người Nam Bộ trong truyện: cốt truyện đơn giản, không có sự kiện gì đặc biệt; ngôn ngữ đậm chất Nam Bộ; giọng điệu buồn thương, ngậm ngùi,...

- Khái quát chủ đề, ý nghĩa của truyện thông qua hình tượng con người Nam Bộ:

+ Đem đến cho người đọc cảm nhận về những mảnh đời nhỏ bé, bất hạnh, trôi nổi, lưu lạc, những khát khao tìm kiếm hạnh phúc âm thầm, mãnh liệt.

+ Khơi gợi sự đồng cảm của người đọc, cho độc giả cảm nhận được giá trị quý báu của tình thân. Đồng thời cảnh báo về những thờ ơ, hời hợt của con người có thể đang góp phần làm nên cái "biển người mênh mông" trong cuộc sống. 

d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau:

- Lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.

- Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý.

- Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng; bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng.

đ. Diễn đạt:

Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết trong đoạn.

e. Sáng tạo:

Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.

Câu 1. Văn bản thông tin.

Câu 2. Một số hình ảnh, chi tiết cho thấy cách giao thương, mua bán thú vị trên chợ nổi.:

Các ghe bán hàng dạo chế ra cách “bẹo” hàng bằng âm thanh lạ tai của những chiếc kèn: Có kèn bấm bằng tay (loại kèn nhỏ, bằng nhựa), có kèn đạp bằng chân (loại kèn lớn, còn gọi là kèn cóc).

Riêng các cô gái bán đồ ăn thức uống thì thường “bẹo hàng” bằng lời rao: Ai ăn chè đậu đen, nước dừa đường cát hôn...? Ai ăn bánh bò hôn...? Những tiếng rao mời mọc nơi chợ nổi, nghe sao mà lảnh lót, thiết tha!

...

Câu 3. Việc sử dụng tên các địa danh giúp thông tin trở nên phong phú, xác thực và sinh động.

Câu 4. Phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản trên giúp tăng tính xác thực và trực quan cho thông tin.

Câu 5. Học sinh nêu được suy nghĩ về vai trò của chợ nổi đối với đời sống của người dân miền Tây. 

Gợi ý: Chợ nổi có vai trò về mặt kinh tế và tinh thần đối với đời sống người dân miền Tây:

- Thúc đẩy sự phát triển kinh tế, đảm bảo cuộc sống cho người dân.

- Thể hiện nét đẹp văn hóa đặc trưng của miền Tây.

Như vậy, chợ nổi có vai trò vô cùng quan trọng đối với đời sống của người dân miền Tây. 

1. Những đoạn, những câu nói về trẻ em và tuổi thơ là:

- Tôi phục sát đất tấm lòng đồng cảm phong phú của chú bé này.

- Họa sĩ đưa tấm lòng mình về trạng thái hồn nhiên như trẻ nhỏ để miêu tả trẻ em, đồng thời cũng đặt lòng mình vào biểu cảm đau khổ của người ăn mày để khắc hoạ ăn mày.

- Về mặt này chúng ta không thể không ca tụng các em bé. Bởi trẻ em phần lớn rất giàu lòng đồng cảm. Hơn nữa, chúng không chỉ đồng cảm với con người mà bằng một cách hết sức tự nhiên, còn đồng cảm với hết thảy sự vật như chó mèo, hoa cỏ, chim cá, bướm sâu,... Chúng hồn nhiên trò chuyện với chó mèo, hồn nhiên hôn lên hoa cỏ, hồn nhiên chơi với búp bê, tấm lòng chúng chân thành mà tự nhiên hơn nghệ sĩ nhiều! Chúng thường để ý đến những việc mà người lớn không chú tâm đến, phát hiện ra những điểm mà người lớn không phát hiện được. Bởi vậy bản chất của trẻ thơ là nghệ thuật.

- Tuổi thơ quả là thời hoàng kim trong đời người! Tuy thời hoàng kim của chúng ta đã trôi qua, nhưng nhờ bồi dưỡng về nghệ thuật, chúng ta vẫn có thể thấy lại thế giới hạnh phúc, nhân ái và hoà bình ấy.

=> Tác giả nhắc nhiều đến trẻ em và tuổi thơ: Theo tác giả, chính trẻ em là người đã dạy cho nghệ sĩ và tất cả chúng ta về cách nhìn đời, cách nhận ra mối tương thông giữa vạn vật và về sự cần thiết phải duy trì sự hồn nhiên, vô tư trong suốt khi ứng xử với thế giới, với nghệ thuật.

2. Tác giả đã phát hiện ra những điểm tương đồng giữa trẻ em và người nghệ sĩ, đó là:

+ Có cái nhìn không vụ lợi về mọi đối tượng (không quan tâm đến "giá trị thực tiễn" của chúng).

+ Luôn duy trì được trạng thái "hồn nhiên" khi nhìn đời bằng "tấm lòng đồng cảm bao la". + Phát hiện ra được những điều thú vị của thế giới ngay ở chỗ bao người đã nhìn mà không thấy.

- Sự khâm phục, trân trọng trẻ em của tác giả không chỉ là tình cảm tự nhiên thuần tuý của một người lớn giàu lòng nhân ái, mà còn là loại tình cảm được soi sáng, dẫn dắt bởi trí tuệ, bởi sự am hiểu sâu sắc bản chất của đời sống, của nghệ thuật.

1. Theo tác giả, góc nhìn riêng về sự vật được thể hiện ở những người có nghề nghiệp khác nhau. Cụ thể như sau:

- Nhà khoa học thấy được tính chất và trạng thái của nó.

​- Bác làm vườn thấy sức sống của nó.

- Chú thợ mộc thấy chất liệu.

- Anh hoạ sĩ thấy dáng vẻ của nó.

2. Cái nhìn của người họa sĩ đối với mọi sự vật trong thế giới: Anh họa sĩ chỉ thưởng thức dáng vẻ của sự vật hiện tại, không còn mục đích gì khác. Thế nên anh hoạ sĩ thường nhìn thấy khía cạnh hình thức, chứ không phải khía cạnh thực tiễn. Nói cách khác là chỉ thấy thế giới của Mĩ chứ không phải thế giới của Chân và Thiện. Tiêu chuẩn giá trị trong thế giới của Mĩ khác hẳn trong thế giới của Chân và Thiện, chúng ta chỉ thưởng thức dáng vẻ, màu sắc, hình dạng của sự vật, chứ không quan tâm tới giá trị thực tiễn của nó.

1.

- Tóm tắt câu chuyện tác giả kể: Cậu bé hàng xóm sang nhà và lật lại chiếc đồng hồ úp mặt, chuyển chén trà lên trước vòi ấm, đảo lại giúp chiếc giày ngước, giấu vào trong hộ dây treo tranh bị thò ra ngoài.

- Câu chuyện giúp tác giả nhận ra: Cậu bé có lòng đồng cảm với thế giới đồ vật. Tấm lòng đồng cảm của cậu bé đã khiến tác giả cảm phục, ngộ ra ý nghĩa lớn lao, đích thực của đồng cảm.

2. Theo tác giả, người nghệ sĩ có tấm lòng đồng cảm khác với người bình thường ở chỗ:

- Người bình thường chỉ có thể đồng cảm với đồng loại, hoặc cùng lắm là với động vật mà thôi.

- Người nghệ sĩ có lòng đồng cảm bao la quảng đại như tấm lòng trời đất, trải khắp vạn vật có tình cũng như không có tình.

3. Việc đặt vấn đề của văn bản nghị luận bằng cách kể lại một câu chuyện có tác dụng: giúp văn bản hấp dẫn, thuyết phục hơn ở cách nói, cách trình bày. Đây là cách thuyết phục dùng chính trải nghiệm, tình huống của bản thân, tác động đến cảm xúc và lí trí của người đọc.

1.

- Tóm tắt câu chuyện tác giả kể: Cậu bé hàng xóm sang nhà và lật lại chiếc đồng hồ úp mặt, chuyển chén trà lên trước vòi ấm, đảo lại giúp chiếc giày ngước, giấu vào trong hộ dây treo tranh bị thò ra ngoài.

- Câu chuyện giúp tác giả nhận ra: Cậu bé có lòng đồng cảm với thế giới đồ vật. Tấm lòng đồng cảm của cậu bé đã khiến tác giả cảm phục, ngộ ra ý nghĩa lớn lao, đích thực của đồng cảm.

2. Theo tác giả, người nghệ sĩ có tấm lòng đồng cảm khác với người bình thường ở chỗ:

- Người bình thường chỉ có thể đồng cảm với đồng loại, hoặc cùng lắm là với động vật mà thôi.

- Người nghệ sĩ có lòng đồng cảm bao la quảng đại như tấm lòng trời đất, trải khắp vạn vật có tình cũng như không có tình.

3. Việc đặt vấn đề của văn bản nghị luận bằng cách kể lại một câu chuyện có tác dụng: giúp văn bản hấp dẫn, thuyết phục hơn ở cách nói, cách trình bày. Đây là cách thuyết phục dùng chính trải nghiệm, tình huống của bản thân, tác động đến cảm xúc và lí trí của người đọc.

Câu 1:

Bản sắc văn hoá dân tộc chính là "hồn cốt", là những giá trị vật chất và tinh thần độc đáo, hun đúc nên cốt cách và bản lĩnh của một quốc gia. Trong thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, việc giữ gìn bản sắc văn hoá lại càng trở nên cấp thiết và mang ý nghĩa sống còn. Khi thế giới trở nên "phẳng" và các nền văn hoá có sự giao thoa mạnh mẽ, nếu không giữ vững bản sắc, chúng ta rất dễ bị "hòa tan", đánh mất đi chính mình. Bản sắc dân tộc chính là "thẻ căn cước" để phân biệt dân tộc ta với các quốc gia khác, là "bộ lọc" thông minh giúp ta "hòa nhập mà không hòa tan". Khi có một nền tảng văn hoá vững chắc, ta mới đủ tự tin để tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hoá nhân loại, làm giàu thêm cho nền văn hoá của mình, đồng thời loại bỏ những yếu tố ngoại lai, độc hại. Hơn nữa, đây còn là nguồn sức mạnh mềm, là niềm tự hào, là sợi dây kết nối cộng đồng, tạo nên sức mạnh nội sinh to lớn để đất nước phát triển bền vững và khẳng định vị thế trên trường quốc tế. Vì vậy, việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá không chỉ là trách nhiệm của quá khứ mà còn là chìa khóa cho tương lai.

Câu 2:

Nghệ thuật sinh ra là để làm đẹp cho tâm hồn con người, và mỗi tác phẩm nghệ thuật chân chính đều mang trong mình một sức hấp dẫn riêng biệt, một thông điệp thẩm mỹ sâu sắc. Trong vô vàn những tác phẩm đã từng đi qua tâm trí, bài hát "Để Mị nói cho mà nghe" của ca sĩ Hoàng Thùy Linh và nhóm sáng tác DTAP đã để lại trong tôi một ấn tượng không thể phai mờ. Sức hấp dẫn của tác phẩm không chỉ đến từ giai điệu bắt tai, mà còn ở cách "làm mới" những giá trị văn học truyền thống một cách đầy sáng tạo và nhân văn.


Ngay từ khi ra mắt, "Để Mị nói cho mà nghe" đã tạo nên một hiện tượng, và sức hút đầu tiên phải kể đến chính là âm nhạc. Bài hát là sự kết hợp hoàn hảo giữa thể loại Pop, World Music hiện đại với những âm hưởng dân gian đặc trưng của vùng núi Tây Bắc. Tiếng sáo, tiếng khèn được phối một cách nhịp nhàng trên nền nhạc điện tử sôi động, tạo nên một tổng thể vừa quen thuộc, vừa mới lạ. Giai điệu bài hát cực kỳ bắt tai, thôi thúc người nghe phải nhún nhảy theo. Đây chính là yếu tố quan trọng giúp tác phẩm tiếp cận nhanh chóng và mạnh mẽ đến giới trẻ, những người luôn tìm kiếm sự mới mẻ trong âm nhạc. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở âm nhạc, "Để Mị nói cho mà nghe" sẽ khó lòng tạo được sức sống lâu bền đến vậy. Giá trị lớn nhất và cũng là sức hấp dẫn cốt lõi của tác phẩm nằm ở phần nội dung và hình ảnh. Lấy cảm hứng từ nhân vật Mị trong truyện ngắn "Vợ chồng A Phủ" của nhà văn Tô Hoài, bài hát không kể lại bi kịch của Mị, mà là "viết tiếp" một khao khát, một hành trình "giải phóng" cho Mị. Nhân vật Mị trong bài hát không còn cam chịu, thụ động nữa; cô đã dám cất lên tiếng nói của mình ("Để Mị nói cho mà nghe"), dám vứt bỏ những ràng buộc của hủ tục ("Bao nhiêu con trâu, con bò/ Đổi lại một bó mỡ, một con lợn/ Mị cũng không cần"), để được sống với khát khao tự do, được "đi chơi" trong đêm tình mùa xuân.

Không chỉ giải phóng cho Mị, video âm nhạc (MV) của bài hát còn xây dựng cả một "vũ trụ văn học" khi đưa vào hình ảnh của Lão Hạc, chị Dậu, Chí Phèo, Xuân Tóc Đỏ... Tất cả họ đều được "Mị" kéo ra khỏi số phận bi thảm của mình để cùng hòa vào một lễ hội của niềm vui và sự tự do. Đây là một góc nhìn vô cùng hiện đại và nhân văn. Nó không phủ nhận hiện thực tàn khốc mà các nhà văn đã miêu tả, nhưng nó cho thấy một tinh thần lạc quan, một khát vọng sống mãnh liệt của con người Việt Nam: dù trong hoàn cảnh nào, họ vẫn luôn hướng về ánh sáng.


Cuối cùng, sức hấp dẫn của "Để Mị nói cho mà nghe" còn đến từ việc tôn vinh vẻ đẹp văn hoá Việt. Toàn bộ MV là một bức tranh rực rỡ sắc màu của thổ cẩm, của những điệu múa, những phiên chợ vùng cao. Tác phẩm đã thành công trong việc đưa chất liệu dân gian vào nghệ thuật đương đại, khiến văn hoá truyền thống trở nên gần gũi, "thời thượng" hơn trong mắt người trẻ. Nó chứng minh rằng, văn hoá dân tộc là một kho báu vô tận cho sáng tạo, chỉ cần chúng ta biết cách khai thác.


Sức hấp dẫn của "Để Mị nói cho mà nghe" là sự cộng hưởng của giai điệu hiện đại, nội dung nhân văn và những giá trị văn hoá sâu sắc. Tác phẩm đã thành công khi vừa đáp ứng thị hiếu của công chúng, vừa thực hiện được sứ mệnh của nghệ thuật: khơi gợi những cảm xúc đẹp và lan toả niềm tự hào về văn hoá dân tộc.

Câu 1 :

Những dấu hiệu cho thấy văn bản trên là văn bản thông tin:

– Văn bản cung cấp những thông tin xác thực về sự kiện Đức Phúc đạt giải tại Intervision 2025.

– Văn bản có sự kết hợp giữa phương tiện ngôn ngữ và phương tiện phi ngôn ngữ.

Câu 2 :

Văn bản trên viết về vấn đề:chất liệu văn hóa truyền thống chính là chìa khóa vàng để xây dựng thương hiệu mạnh cho âm nhạc Việt Nam trong thời kỳ hội nhập thế giới.

Câu 3 :

Phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản: Hình ảnh "Phần biểu diễn ấn tượng của ca sĩ Đức Phúc trên sân khấu Intervision 2025".

− Tác dụng:

+ Minh hoạ, giúp cho văn bản thêm hấp dẫn, sinh động, thuyết phục.

+ Giúp người đọc hình dung được một cách chân thực, cụ thể hơn về thông tin được đề cập trong văn bản.   

Câu 4 :

− Nhan đề "Chiếc chìa khoá vàng để hội nhập":

+ "Chiếc chìa khoá vàng" là hình ảnh ẩn dụ cho chất liệu văn hoá truyền thống dân tộc, bản sắc văn hoá của dân tộc Việt Nam.

+ "Hội nhập": Là quá trình đất nước vươn mình, gia nhập cộng đồng các nước trên thế giới để cùng phát triển.

− Nội dung bài viết: Qua thành công của ca sĩ Đức Phúc tại cuộc thi âm nhạc quốc tế Intervision 2025, bài viết khẳng định sức hấp dẫn đặc biệt, mạnh mẽ của chất liệu truyền thống trước khán giả quốc tế. Từ đó, văn bản nhấn mạnh việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc chính là con đường/ sự lựa chọn đúng đắn/ chiếc chìa khoá vàng giúp âm nhạc Việt Nam phát triển mạnh mẽ trong thời kì hội nhập quốc tế.

=> Nhận xét: Nhan đề bài viết đã thể một cách rõ ràng, trực tiếp ý nghĩa khái quát, nội dung của bài viết.

Câu 5 :

− Thông tin và nhận thức bổ ích có thể được đúc rút từ bài viết:

+ Hiểu được ý nghĩa của bản sắc văn hoá dân tộc trong việc xây dựng thương hiệu âm nhạc nước nhà trên trường quốc tế.

+ Nhận thức được rằng hội nhập không phải là cố tạo ra cái mới, cái giống với những trào lưu quốc tế mà cần là cái sáng tạo từ chính cội nguồn văn hoá của dân tộc.

+ Âm nhạc chính là một tấm "hộ chiếu vạn năng" góp phần quảng bá hình ảnh dân tộc ra thế giới.

− 3 việc em có thể làm để góp phần gìn giữ bản sắc văn hoá dân tộc trong thời kì hội nhập: 

+ Tìm hiểu, ghi hình và đăng tải video giới thiệu về các làn điệu dân ca, ca nhạc truyền thống của dân tộc.  

+ Giới thiệu về văn hoá, ẩm thực, trang phục truyền thống của dân tộc cho bạn bè quốc tế. 

+ Quảng bá, ưu tiên sử dụng những sản phẩm truyền thống của Việt Nam trong cuộc sống hàng ngày ví dụ phấn nụ xứ Huế, lụa Vạn Phúc, các sản phẩm mây tre đan của các làng nghề,…

+ Giữ gìn sự chuẩn mực, trong sáng của tiếng Việt trong lời ăn tiếng nói hàng ngày.