NGUYỄN THỊ HỒNG NGỌC
Giới thiệu về bản thân
Câu 1
Nhân vật Thứ hiện lên như một biểu tượng của những khát vọng tuổi trẻ bị bỏ phí. Khi còn ngồi trên ghế nhà trường, Thứ có ước mơ vươn lên, hy vọng có nghề nghiệp và cuộc sống tươm tất; song đến lúc trưởng thành, ước mơ ấy không thành hiện thực - Thứ rơi vào cảnh thất nghiệp, phụ thuộc, bị người đời khinh rẻ. Đoạn trích khắc họa bi kịch ấy bằng ngôn ngữ giàu cảm xúc: điệp ngữ và liệt kê những hậu quả tương lai làm nổi bật sự sa sút và tương lai u ám của nhân vật.
Từ thái độ kể chuyện có thể thấy sự pha trộn giữa thương cảm và phê phán: thương vì hoàn cảnh và tính hèn của Thứ, phê phán vì thiếu ý chí, không chịu tự vươn lên. Qua Thứ, tác giả cảnh tỉnh người đọc về trách nhiệm của tuổi trẻ: ước mơ phải được nuôi dưỡng bằng hành động, bằng ý chí và kế hoạch; nếu bỏ lỡ thời gian, con người có thể bị
"chết mà chưa sống". Như vậy, Thứ là bài học cảnh tỉnh về sự lãng phí cơ hội và hậu quả của việc không biến ước mơ thành hành động
Câu 2. (4.0 điểm)
Viet bai van nghi luan (khoang 600
chữ) bàn về vấn đề "tuổi trẻ và ước mơ", dựa trên câu nói của Gabriel Garcia Marquez: "Không phải người ta ngừng theo đuổi ước mơ vì họ già đi mà họ già đi vì ngừng theo đuổi ước mơ".
Tuổi trẻ là thời kỳ đầy sức sống, khát khao và ước vọng. Ước mơ với tuổi trẻ không chỉ là những hình dung về tương lai tốt đẹp, mà còn là ngọn lửa dẫn đường, là động lực thúc đẩy hành động, học tập và sáng tạo. Gabriel Garcia Marquez khi nói: "Không phải người ta ngừng theo đuổi ước mơ vì họ già đi mà họ già đi vì ngừng theo đuổi ước mơ" đã nhấn mạnh mối quan hệ biện chứng giữa tinh thần sống và ước mơ: khi con người còn nuôi dưỡng ước mơ, họ trẻ trung, năng động và hướng tới tương lai; ngược lại, khi bỏ rơi ước mơ, họ dễ rơi vào vô vị, thụ động, và cảm thấy già trước tuổi.
Trước hết, ước mơ giúp thanh niên xác định mục tiêu sống. Một ước mơ rõ ràng khiến người trẻ có kế hoạch, biết đầu tư thời gian và công sc đ phát triển. Nhiều tấm gương thành công khởi đầu từ một ước mơ tưởng chừng nhỏ bé - từ khát vọng học hành, khởi nghiệp tới khao khát thay đổi cộng đồng.
Ước mơ khơi dậy sáng tạo, kiên trì và khả năng vượt khó: khi vấp ngã, người có ước mơ sẽ biết đứng dậy vì mục tiêu vẫn còn đó.
Thứ hai, ước mơ giữ cho tinh thần luôn tươi mới. Tinh thần lạc quan, tò mò và ham học hỏi là đặc trưng của người trẻ. Nếu ước mơ bị dập tắt bởi sự an phận, sợ thất bại hay áp lực thực dụng, người ta sẽ mất động lực, dẫn tới cảm giác "già" về tinh thần. Nhiều nghiên cứu xã hội học chỉ ra rằng sự mục tiêu hóá và cảm giác có ý nghĩa giúp con người sống khỏe mạnh hơn, tinh thần minh mẫn hơn -điều này minh chứng cho câu nói của Marquez.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng ước mơ phải đi đôi với kế hoạch và hành động. Mơ mà không làm là vô nghĩa; ước mơ vô căn cứ dễ dẫn tới ảo tưởng. Vì vậy, tuổi trẻ cần nuôi cc m nhưng cũng phải rèn kỹ năng, lập kế hoạch khả thi và chấp nhận thử thách. Xã hội cũng có vai trò: môi trường giáo dục, cơ hội nghề nghiệp và sự hỗ trợ của gia đình giúp ước mơ trẻ có đất nảy | |
mầm và thực hiện. Cuối cùng, giữ ước mơ còn là giữ bản sắc con người. Trong thế giới thay đổi nhanh, khả năng mơ và dám thực hiện mơ là yếu tố giúp mỗi người tạo dấu ấn riêng. Người giàu ước mơ không chỉ không "già" về tinh thần mà cn truyền cm hứng cho người khác. Như vậy, thông điệp của Marquez là lời nhắc: đừng để cuộc sống cuốn ta vào thói quen vô nghĩa; hãy luôn gìn giữ ước mơ, biến nó thành động lực và hành động - đó là cách để mãi trẻ trung, có ý nghĩa. |
Câu 1. Xác định điểm nhìn của người kể chuyện trong văn bản.
Điểm nhìn: người kể chuyện xưng
"tôi" (ngôi thứ nhất) - theo dõi, nhận xét và kể về nhân vật Thứ từ góc nhìn trực tiếp, có bình luận, thương cảm và phê phán.
Câu 2. Ước mơ của nhân vật Thứ
khi ngồi trên ghế nhà trường là gì?
Ước mơ của Thứ khi còn ngồi trên ghế nhà trường là muốn trở thành người có địa vị, được người đời kính nể - cụ thể là muốn học hành, có nghề nghiệp, vươn lên để thoát cảnh nghèo, không bị khinh rẻ. (Nếu văn bản đầy đủ nêu rõ ước mơ cụ thể hơn thì bổ sung: ví dụ muốn làm thầy/quan/tự chủ sống có danh dự.)
Câu 3. Phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn trích:
"Nhưng nay mai, mới thật buồn. Y sẽ chẳng có việc gì làm, y sẽ ăn bám vợ! Đời y sẽ mốc lên, sẽ gì đi, sẽ mòn, sẽ mục ra ở một xó nhà quê. Người ta sẽ khinh y, vợ y sẽ khinh y, chinh y sẽ khinh y. Rồi y sẽ chết mà chưa làm gì cả, chết mà chưa sống!.."
Biện pháp tu từ chủ yếu: điệp từ / điệp cấu trúc, kết hợp với liệt kê và phóng đại.
Tác dụng:
• Nhấn mạnh cảm xúc bi kịch, nỗi thất vọng và tương lai u ám của nhân vật (lặp "y sẽ...",
"sẽ.." làm nổi bật chuỗi hậu quả tồi tệ).
• Tạo nhịp điệu gấp gáp, dồn nén, làm câu văn như lời rao báo, cảnh báo hoặc như lời tưởng tượng đau xót của nhân vật/narrator.
Gợi cảm xúc thương hại và khinh bỉ đồng thời cho người đọc:
vừa cảm thông với số phận vừa thấy nỗi xấu hổ, ^
'ề của nhânLàm rõ sự tương phản giữa ước mơ ban đầu và thực tại tồi tệ, tăng hiệu ứng biểu cảm và tính khắc họa tâm lí.
Câu 4. Nhận xét về cuộc sống và con người của nhân vật Thứ được thể hiện trong đoạn trích.
Nhân vật Thứ hiện lên là người có ước mơ nhưng thất bại, bị hoàn cảnh, thiếu quyết tâm hoặc lãng phí tuổi trẻ nên kết cục bi đát:
cuộc sống nghèo khó, không nghề nghiệp, bị người khác khinh rẻ, dự báo một đời vô tích sự ("chết mà chưa sống"). Con người Thứ vừa đáng thương (có mơ, có khát vọng) vừa đáng trách (không nỗ lực để thực hiện ước mơ, hoặc bị nhu nhược, phụ thuộc). Văn bản thể hiện sự xót xa, phê phán xã hội lẫn trách bản thân nhân vật.
Câu 5. Nêu suy nghĩ của anh/chị về một triết lí nhân sinh rút ra từ văn bản.
Triết lí có thể rút ra: "Ước mơ nếu không đi kèm với hành động và trách nhiệm thì chỉ là mộng tưởng;
tuổi trẻ phải chủ động nỗ lực, nếu chần chừ sẽ đánh mất cơ hội và danh dự". Hay nói ngắn gọn: Ước mơ cần thực thi bằng hành động;
nếu không, ước mơ sẽ hóa thành nỗi hối tiếc cả đời. (Có thể mở rộng rằng xã hội cũng có trách nhiệm tạo điều kiện cho con người thực hiện ước mơ, tránh phán xét quá khắc nghiệt.)