Nguyễn Đức Công

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Đức Công
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Kĩ năng sống và Tri thức: Hai cánh chim giúp học sinh bay cao

Trong kỷ nguyên số hiện nay, khi khối lượng kiến thức của nhân loại tăng lên gấp đôi chỉ sau mỗi vài năm, việc học tập của học sinh thường chịu áp lực nặng nề từ các con số và bằng cấp. Từ đó, nảy sinh quan điểm cho rằng: "Với học sinh, kĩ năng sống không quan trọng như tri thức". Tuy nhiên, đây là một cái nhìn phiến diện, thiếu thực tế, bởi nếu tri thức là điều kiện cần thì kĩ năng sống chính là điều kiện đủ để một cá nhân tồn tại và phát triển bền vững.

Trước hết, ta cần hiểu rõ hai khái niệm này. Tri thức là hệ thống những hiểu biết, lý thuyết về tự nhiên và xã hội mà học sinh tiếp thu qua sách vở, trường lớp. Trong khi đó, kĩ năng sống là khả năng thích nghi, giải quyết vấn đề, giao tiếp và quản lý bản thân trong các tình huống thực tế. Coi nhẹ kĩ năng sống so với tri thức giống như việc xây dựng một ngôi nhà có khung thép đồ sộ nhưng lại thiếu đi lớp xi măng kết dính và hệ thống điện nước để vận hành.

Lý do khiến quan điểm này trở nên sai lầm là bởi tri thức nếu không được vận hành bởi kĩ năng sẽ trở nên "xơ cứng". Một học sinh có thể giải được những bài toán tích phân phức tạp, nhưng nếu thiếu kĩ năng quản lý cảm xúc, em dễ dàng rơi vào trầm cảm khi đối mặt với áp lực thi cử. Một học sinh am hiểu tường tận về lịch sử, địa lý nhưng thiếu kĩ năng giao tiếp và làm việc nhóm sẽ rất khó để hòa nhập và khẳng định mình trong môi trường tập thể. Thực tế cho thấy, nhiều "thủ khoa" khi bước ra đời lại lúng túng trước những va vấp nhỏ nhất, đó là hệ quả của việc học lệch, chỉ chú trọng tư duy logic mà bỏ quên tư duy sinh tồn.

Hơn nữa, trong thời đại trí tuệ nhân tạo (AI) phát triển, việc ghi nhớ tri thức thuần túy không còn là lợi thế độc quyền của con người. Máy móc có thể lưu trữ và xử lý dữ liệu nhanh hơn chúng ta gấp hàng triệu lần. Điều làm nên sự khác biệt giữa con người và máy móc chính là kĩ năng sống: sự sáng tạo, lòng trắc ẩn, kĩ năng lãnh đạo và khả năng giải quyết những xung đột phức tạp. Nếu học sinh chỉ tập trung vào tri thức sách vở, các em đang tự biến mình thành những "cỗ máy sinh học" và dễ dàng bị thay thế trong tương lai.

Ngược lại, kĩ năng sống giúp tri thức được tỏa sáng. Khi có kĩ năng tự học, học sinh sẽ biết cách biến lượng tri thức khổng lồ thành vũ khí của riêng mình. Khi có kĩ năng thuyết trình, những ý tưởng khoa học mới được lan tỏa. Kĩ năng sống không hề bài trừ tri thức; trái lại, nó là công cụ để thực hành và ứng dụng tri thức vào đời sống, giúp học sinh trở thành những con người toàn diện về cả "tâm" lẫn "tài".

Tuy nhiên, phản đối quan điểm trên không đồng nghĩa với việc chúng ta cổ xúy cho lối sống thực dụng, coi thường việc học tập chuyên môn. Một người có kĩ năng giao tiếp khéo léo nhưng rỗng tuếch về kiến thức sẽ chỉ là kẻ "mồm mép đỡ chân tay", không thể đóng góp thực chất cho xã hội. Mối quan hệ giữa tri thức và kĩ năng là mối quan hệ hữu cơ, tương hỗ.

Tóm lại, tri thức và kĩ năng sống như hai cánh của một con chim, muốn bay cao và xa, học sinh cần cả hai. Thay vì đặt chúng lên bàn cân để so sánh cái nào quan trọng hơn, gia đình và nhà trường cần tạo điều kiện để học sinh được học đi đôi với hành. Đừng để các em trở thành những "con mọt sách" cô độc giữa dòng đời hối hả, mà hãy trang bị cho các em bản lĩnh và kĩ năng để tự tin làm chủ vận mệnh của chính mình.

Dưới đây là gợi ý trả lời cho các câu hỏi dựa trên văn bản:

Câu 1. Vấn đề bàn luận: Văn bản tập trung bàn về ý nghĩa, vai trò của lòng kiên trì trong cuộc sống và cách thức để rèn luyện, duy trì đức tính này để đạt đến thành công.

Câu 2. Câu văn nêu luận điểm ở đoạn (2): "Kiên trì là cầu nối để thực hiện lí tưởng, là bến phà và là nấc thang dẫn đến thành công."

Câu 3.

  • a. Phép liên kết: Phép nối (Sử dụng từ nối "Tuy nhiên" để liên kết câu 1 và câu 2).
  • b. Phép liên kết: Phép thế (Từ "nỗ lực" ở câu sau thay thế/bao hàm ý nghĩa cho các hành động "kiên nhẫn", "nhẫn nại", "chăm chỉ", "cống hiến" ở câu trước). Hoặc Phép lặp (Lặp lại từ "mục tiêu" từ các đoạn trước hoặc hàm ý về hành động bền bỉ). Lưu ý: Phép thế từ "chúng ta" (lặp lại) cũng là một lựa chọn.

Câu 4. Tác dụng của cách mở đầu văn bản:

  • Về nội dung: Trực tiếp giới thiệu vấn đề (lòng kiên trì), giúp người đọc nắm bắt ngay nội dung trọng tâm.
  • Về hình thức: Tạo cách đặt vấn đề ngắn gọn, rõ ràng, khẳng định tầm quan trọng của vấn đề ngay từ đầu để định hướng tư duy cho người đọc.

Câu 5. Nhận xét về bằng chứng trong đoạn (2):

  • Tính xác thực: Tác giả đưa ra dẫn chứng về Thomas Edison - một nhà phát minh vĩ đại có thật trong lịch sử với con số cụ thể (1.000 lần thử nghiệm).
  • Tính thuyết phục: Dẫn chứng này rất điển hình, giàu sức thuyết phục, minh chứng rõ nét cho việc kiên trì biến thất bại thành bài học để đi đến thành công rực rỡ.

Câu 6. Đoạn văn chia sẻ trải nghiệm (Gợi ý): Ý kiến của tác giả về sức mạnh của lòng kiên trì hoàn toàn đúng đắn và tôi đã tự mình kiểm chứng điều đó qua việc học tiếng Anh. Trước đây, tôi từng rất sợ giao tiếp và định bỏ cuộc vì phát âm không chuẩn, từ vựng nghèo nàn. Tuy nhiên, thay vì dừng lại, tôi kiên trì dành ra 30 phút mỗi ngày để luyện nghe và nói theo các video trên mạng. Có những lúc nản lòng vì không thấy tiến bộ ngay, tôi lại nhớ đến câu chuyện về sự nỗ lực bền bỉ để tiếp tục. Sau một năm kiên trì, tôi đã có thể tự tin trò chuyện với người bản xứ và đạt kết quả cao trong kỳ thi cuối kỳ. Trải nghiệm ấy giúp tôi hiểu rằng khó khăn chỉ là thử thách, và lòng kiên trì chính là chìa khóa vạn năng để mở cánh cửa mục tiêu.

36 km/h = 10m/s

có : (10 x 4 +1/2 x a x 4x4)-(10x3+1/2x a x 3x3)=13,5

=> a = 1

36 km/h = 10m/s

có : (10 x 4 +1/2 x a x 4x4)-(10x3+1/2x a x 3x3)=13,5

=> a = 1

36 km/h = 10m/s

có : (10 x 4 +1/2 x a x 4x4)-(10x3+1/2x a x 3x3)=13,5

=> a = 1

36 km/h = 10m/s

có : (10 x 4 +1/2 x a x 4x4)-(10x3+1/2x a x 3x3)=13,5

=> a = 1

36 km/h = 10m/s

có : (10 x 4 +1/2 x a x 4x4)-(10x3+1/2x a x 3x3)=13,5

=> a = 1

36 km/h = 10m/s

có : (10 x 4 +1/2 x a x 4x4)-(10x3+1/2x a x 3x3)=13,5

=> a = 1

36 km/h = 10m/s

có : (10 x 4 +1/2 x a x 4x4)-(10x3+1/2x a x 3x3)=13,5

=> a = 1

36 km/h = 10m/s

có : (10 x 4 +1/2 x a x 4x4)-(10x3+1/2x a x 3x3)=13,5

=> a = 1