Nguyễn Trần Quỳnh Chi
Giới thiệu về bản thân
Câu 1
Nhà văn Tô Hoài từng chia sẻ:”Nhân vật là linh hồn, là trụ cột của tác phẩm”. Có lẽ vì vậy mà Dương Giao Linh đã thổi hồn cho nhân vật “tôi” - Lâm với những diễn biến tâm lí được thể hiện tinh tế và giàu chiều sâu trong đoạn trích “Thổn thức gió đồng”. Trước hết là cảm giác bất an, chênh chao khi chứng kiến quê hương đổi thay: tiếng còi xe, nhạc băng ầm ĩ lấn át lời ru trưa hè khiến “tôi” hoài niệm về một làng quê yên bình đã xa. Khi dì Lam trở về, “tôi” thảng thốt, ngỡ ngàng rồi vỡ òa xúc động. Cuộc gặp gỡ bất ngờ khơi dậy trong “tôi” những ký ức tuổi thơ êm đềm bên dì – những ngày bắt cua ngoài đồng, những đêm ôm nghe đọc truyện. Tuy nhiên, xen lẫn niềm vui là sự lặng lẽ quan sát, suy ngẫm: “tôi” không hỏi về những năm tháng đã qua mà nhìn vào ánh mắt bình thản của dì để cảm nhận sự an yên sau bão tố. Đặc biệt, khi chứng kiến mẹ khóc, “tôi” lại bâng khuâng, ngạc nhiên trước những rung động sâu kín của người lớn. Từ bất an đến xúc động, rồi chiêm nghiệm, tâm trạng nhân vật “tôi” cho thấy sự trưởng thành trong nhận thức và tình yêu tha thiết với gia đình, quê hương.
Câu 2
Trong những ngày cả nước hân hoan kỉ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, không khí tự hào và biết ơn lan tỏa khắp mọi miền Tổ quốc. Bên cạnh những hình ảnh đẹp về lòng yêu nước, vẫn xuất hiện đâu đó những hành vi ứng xử thiếu văn hóa nơi công cộng, đặc biệt ở một bộ phận người trẻ. Điều đó đặt ra vấn đề đáng suy ngẫm về văn hóa ứng xử của thế hệ trẻ hôm nay.
“Văn hóa ứng xử nơi công cộng” được hiểu là cách mỗi cá nhân cư xử, giao tiếp, hành động phù hợp với chuẩn mực đạo đức, pháp luật và thuần phong mỹ tục khi tham gia vào không gian chung như đường phố, trường học, công viên, khu di tích, lễ hội… Với thế hệ trẻ, đó còn là ý thức giữ gìn hình ảnh bản thân, thể hiện sự văn minh, trách nhiệm và lòng tự trọng của một công dân trong xã hội hiện đại.
Thực tế cho thấy nhiều bạn trẻ có hành vi rất đáng trân trọng: xếp hàng trật tự khi tham gia sự kiện, nhường ghế cho người già trên xe buýt, tình nguyện dọn rác sau lễ hội, mặc trang phục lịch sự khi đến các địa điểm trang nghiêm. Trong dịp kỉ niệm trọng đại của dân tộc, không ít bạn trẻ đã tự hào khoác lên mình màu cờ sắc áo, tham gia các hoạt động tri ân, lan tỏa thông điệp tích cực trên mạng xã hội. Đó là những biểu hiện đẹp của văn hóa ứng xử.
Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại những hình ảnh chưa đẹp: chen lấn, xô đẩy ở nơi đông người; xả rác bừa bãi sau các sự kiện; nói tục, cười đùa quá mức ở không gian trang nghiêm; thậm chí quay clip phản cảm để câu “like”, “view”. Một số bạn trẻ thiếu ý thức khi tham gia giao thông, tụ tập gây ồn ào nơi công cộng. Những hành vi ấy tuy không phải phổ biến nhưng đủ để tạo ấn tượng xấu và làm giảm đi ý nghĩa thiêng liêng của các sự kiện cộng đồng.
Nguyên nhân của thực trạng trên xuất phát từ nhiều phía. Trước hết là sự thiếu ý thức tự giác và rèn luyện cá nhân; một bộ phận giới trẻ chạy theo xu hướng, thích thể hiện cái tôi mà quên đi giới hạn cần thiết. Bên cạnh đó, tác động của mạng xã hội khiến một số người đề cao sự nổi tiếng tức thời hơn là giá trị bền vững. Sự giáo dục từ gia đình và nhà trường trong một số trường hợp còn nặng về kiến thức mà chưa chú trọng đầy đủ đến giáo dục nhân cách, kĩ năng sống. Mặt khác, môi trường xã hội đôi khi chưa thực sự nghiêm khắc với những hành vi thiếu văn minh nên chưa tạo được tính răn đe mạnh mẽ.
Tuy vậy, cũng cần nhìn nhận khách quan rằng không thể quy chụp toàn bộ thế hệ trẻ. Phần lớn người trẻ hôm nay năng động, hiểu biết, có tinh thần trách nhiệm và sẵn sàng cống hiến. Những hình ảnh đẹp trong các hoạt động tình nguyện, bảo vệ môi trường, hỗ trợ cộng đồng hay trong các dịp kỉ niệm 30/4, 2/9 chính là minh chứng rõ ràng. Vì thế, vấn đề không nằm ở bản chất của thế hệ mà ở ý thức của từng cá nhân.
Từ thực tế ấy, mỗi người trẻ cần tự ý thức rằng nơi công cộng không chỉ là không gian chung mà còn là “tấm gương” phản chiếu nhân cách. Hãy bắt đầu từ những hành động nhỏ: nói lời cảm ơn, xin lỗi đúng lúc; không xả rác; tuân thủ quy định; tôn trọng sự trang nghiêm của các sự kiện lịch sử; ứng xử văn minh cả ngoài đời lẫn trên không gian mạng. Gia đình và nhà trường cần tăng cường giáo dục kĩ năng sống, bồi dưỡng lòng tự trọng và tinh thần công dân. Xã hội cũng cần biểu dương những hành vi đẹp và phê phán kịp thời những biểu hiện lệch chuẩn.
Văn hóa ứng xử nơi công cộng chính là thước đo trình độ văn minh của một thế hệ. Khi mỗi người trẻ biết sống có trách nhiệm và ý thức, hình ảnh Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế sẽ ngày càng đẹp hơn. Giữ gìn văn hóa ứng xử không chỉ là giữ gìn danh dự cá nhân mà còn là cách thể hiện lòng yêu nước thiết thực và bền vững trong thời đại hôm nay.
Câu 1
Đoạn trích được kể theo ngôi thứ nhất. Dấu hiệu nhận biết là người kể xưng “tôi”, trực tiếp tham gia vào câu chuyện và kể lại những gì mình chứng kiến, cảm nhận.
Câu 2
Những chi tiết cho thấy sự thay đổi của làng quê:
Người dân từ “những người nông dân chỉ biết cấy lúa và trồng rau” nay “đi làm thợ xây và làm thuê cho dự án”.
“Cuộc sống bớt lam lũ và cơ cực hơn.”
“Tiếng còi xe và nhạc băng ầm ĩ thay cho những lời hát ru con mỗi buổi trưa hè.”
“Những ngôi nhà trong làng đã khang trang, không khí khác trước nhiều lắm.”
Câu 3
Hai câu văn sử dụng biện pháp tu từ đối lập: “tiều tụy, yếu mòn” - “can trường, bền bỉ”.
Tác dụng:
Giúp câu văn thêm sinh động, hấp dẫn, có sự đối lập tương phản, gợi hình gợi cảm cho sự diễn đạt.
Làm nổi bật hai mặt tác động của “tháng năm” (thời gian) đối với con người: vừa bào mòn thể xác, vừa tôi luyện ý chí. Nhấn mạnh sức mạnh của nghị lực con người khi đi qua đau khổ. Góp phần khắc họa vẻ đẹp nội tâm, sự trưởng thành, cứng cỏi của dì Lam sau những biến cố.
Cho thấy sự đồng cảm của tác giả trước sự nghị lực, ý chí bền bỉ không ngừng vươn lên của con người.
Câu 4
Đoạn trích được trần thuật từ điểm nhìn của nhân vật “tôi” - Lâm. Điểm nhìn này phù hợp vì:
Giúp câu chuyện mang màu sắc hồi ức, chân thực và giàu cảm xúc.
Thể hiện rõ những biến chuyển của làng quê qua sự so sánh giữa quá khứ và hiện tại.
Khắc họa hình ảnh dì Lam qua cái nhìn của nhân vật “tôi” với sự cảm thông, trân trọng, từ đó làm nổi bật chủ đề về sự đổi thay của quê hương và vẻ đẹp nghị lực, an nhiên của người phụ nữ sau biến cố.
Câu 5
Cuộc sống ở nhiều vùng nông thôn hôm nay đang thay đổi mạnh mẽ theo hướng hiện đại hóa. Đó là tín hiệu đáng mừng vì đời sống vật chất được nâng cao, cơ hội việc làm mở rộng. Tuy nhiên, sự phát triển ấy cũng kéo theo những xáo trộn, làm phai nhạt nét bình yên và truyền thống vốn có. Vì vậy, bên cạnh phát triển kinh tế, mỗi người cần có ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa và những giá trị tốt đẹp của quê hương. Chỉ khi hài hòa giữa đổi mới và gìn giữ, nông thôn mới thực sự phát triển bền vững.
Câu 1
Có ý kiến cho rằng thơ ca chân chính là nơi con người gửi gắm không chỉ cảm xúc mà còn cả bản lĩnh sống của mình. Điều đó được thể hiện sâu sắc trong sáng tác của chủ tịch Hồ Chí Minh. Bài thơ “Tự miễn” tuy ngắn gọn nhưng hàm chứa một tư tưởng lớn lao về thái độ sống trước nghịch cảnh. Mở ra trong bối cảnh thiếu thốn, gian lao, lời thơ không hề bi lụy mà bình thản ghi nhận thực tại như một điều tất yếu. Từ sự chấp nhận ấy, mạch cảm xúc dần chuyển sang thế chủ động: con người không để hoàn cảnh chi phối mà tự “miễn” cho mình khỏi những ràng buộc của khổ đau, giữ vững tâm thế ung dung, tự tại. Ý thơ vì thế không dừng ở việc phản ánh khó khăn mà hướng đến khẳng định sức mạnh tinh thần – càng gian nan càng tôi luyện ý chí. Bài thơ không chỉ hay về mặt nội dung mà còn đặc sắc ở nghệ thuật, thể thơ tứ tuyệt cô đọng, ngôn ngữ mộc mạc mà hàm súc, giọng điệu điềm tĩnh, tự nhiên đã làm nổi bật phong thái ung dung của người chiến sĩ cách mạng. “Tự miễn” vì vậy không chỉ là lời tự nhủ mà còn là tuyên ngôn sống tích cực, thể hiện vẻ đẹp tâm hồn thanh cao và ý chí kiên cường của Bác trước nghịch cảnh.
Câu 2
Trong hành trình trưởng thành của mỗi con người, thử thách là điều không thể tránh khỏi. Có người sợ hãi, tìm cách né tránh; có người lại xem đó như cơ hội để khẳng định bản thân. Thực tế cho thấy, chính những thử thách mới tạo nên giá trị và ý nghĩa đích thực của cuộc sống.
Vậy thử thách là gì? Đó là những khó khăn, trở ngại, áp lực mà con người phải đối mặt trong học tập, công việc và các mối quan hệ. Đó có thể là một kì thi quan trọng, một thất bại đầu đời, một biến cố bất ngờ hay những giới hạn của chính bản thân. Khi đứng trước thử thách, con người buộc phải lựa chọn lùi bước hay tiến lên để quyết định bản thân là ai.
Trước hết, thử thách giúp con người nhận ra năng lực thật sự của mình. Trong môi trường thuận lợi, ta dễ bằng lòng với những gì đang có. Nhưng khi khó khăn ập đến, ta mới biết mình kiên cường hay yếu đuối, bản lĩnh hay dễ buông xuôi. Áp lực giống như lửa thử vàng, càng tôi luyện càng làm con người cứng cáp hơn. Nhiều người chỉ thực sự trưởng thành sau những lần vấp ngã. Thất bại trong học tập có thể khiến ta nhìn lại phương pháp của mình; sai lầm trong cuộc sống dạy ta bài học về trách nhiệm và sự tỉnh táo.
Bên cạnh đó, thử thách còn rèn luyện ý chí và nghị lực. Không có con đường thành công nào trải đầy hoa hồng. Minh chứng rõ ràng là cuộc đời của Nick Vujic. Tuy sinh ra không có tay và chân nhưng chính từ nghịch cảnh ấy lại trở thành động lực để anh vươn lên, học tập, diễn thuyết và truyền cảm hứng cho hàng triệu người trên thế giới.
Dù vậy, thử thách chỉ thực sự có ý nghĩa khi ta đối diện với nó bằng thái độ tích cực. Nếu bi quan, đổ lỗi hoặc trốn tránh, thử thách sẽ trở thành gánh nặng như một bộ phận người luôn sống trong cảnh trốn tránh những điều khó khăn, không có ý chí phấn đấu, vươn lên trong cuộc sống. Ngược lại, nếu xem khó khăn là cơ hội rèn luyện, ta sẽ tìm thấy động lực để tiến lên. Điều quan trọng không phải là cuộc đời dễ hay khó, mà là ta chọn cách phản ứng thế nào trước những điều xảy đến.
Là người trẻ, mỗi chúng ta cần chuẩn bị cho mình tinh thần sẵn sàng đón nhận thử thách. Thay vì sợ sai, hãy dám thử; thay vì nản lòng, hãy kiên trì thêm một chút. Bởi sau mỗi lần vượt qua khó khăn, ta không chỉ tiến gần hơn đến thành công mà còn hiểu rõ giá trị của bản thân.
Có thể nói, thử thách chính là “người thầy” nghiêm khắc nhưng cần thiết của cuộc đời. Nhờ có thử thách, con người trưởng thành, mạnh mẽ và sống có ý nghĩa hơn. Khi biết đối diện và vượt qua, ta sẽ nhận ra: khó khăn không phải để quật ngã ta, mà để giúp ta vươn cao.
Câu 1
Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài thơ là biểu cảm.
Câu 2
Bài thơ ở bản phiên âm được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật.
Câu 3
Biện pháp tu từ được sử dụng là phép đối.
Đông hàn - xuân noãn, tiều tuỵ - huy hoàng.
Biện pháp tu từ đối lập đã khiến bài thơ trở nên sinh động, hấp dẫn, gợi hình, gợi cảm, có sự đối lập trái ngược, tăng sức biểu cảm cho sự diễn đạt. Đồng thời, cách đối lập này làm nổi bật quy luật tất yếu của cuộc sống: Phải trải qua gian nan, khắc nghiệt thì mới có thể đạt được thành quả tốt đẹp. Qua đó góp phần thể hiện tinh thần lạc quan, niềm tin mạnh mẽ của tác giả trước khó khăn, tai ương, nghịch cảnh.
Câu 4
Tai ương vốn là những điều tiêu cực, gây đau khổ và mất mát cho con người. Tuy nhiên, trong bài thơ này, đối với nhân vật trữ tình, tai ương không chỉ mang ý nghĩa tiêu cực mà còn là những thử thách cần thiết để rèn luyện con người. Chính tai ương đã giúp nhân vật trữ tình tôi luyện ý chí, làm tinh thần trở nên vững vàng, hăng hái hơn trước cuộc sống.
Câu 5
Bài thơ giúp người đọc nhận ra rằng trong cuộc sống, khó khăn và thử thách là điều không thể tránh khỏi. Điều quan trọng là con người cần có thái độ sống lạc quan, kiên cường, biết biến nghịch cảnh thành động lực để vươn lên. Qua đó, mỗi người sẽ trưởng thành hơn và đạt được những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống.
Câu 1
Đoạn trích được viết theo thể thơ tám chữ.
Câu 2
Một số từ ngữ tiêu biểu thể hiện hình ảnh biển đảo và đất nước: Biển, sóng dữ, Hoàng Sa, bám biển, giữ biển, Tổ quốc, màu cờ nước Việt, máu ngư dân.
Câu 3
Biện pháp tu từ: So sánh.
Hình ảnh so sánh: “Mẹ Tổ quốc vẫn luôn ở bên ta / Như máu ấm trong màu cờ nước Việt”.
Tác dụng: Khiến câu thơ thêm sinh động, hấp dẫn, tăng sức biểu đạt đồng thời so sánh Tổ quốc với máu ấm trong lá cờ làm nổi bật sự thiêng liêng, gần gũi, khẳng định Tổ quốc luôn hiện diện, tiếp sức mạnh và niềm tin cho con người trong công cuộc giữ gìn biển đảo. Qua đó thấy được sự trân trọng, nâng niu, biết ơn của tác giả dành cho Tổ quốc.
Câu 4
Những tình cảm mà nhà thơ đã thể hiện trong đoạn trích dành cho biển đảo Tổ quốc: Tình yêu tha thiết với biển đảo Tổ quốc, niềm tự hào dân tộc, sự cảm phục, trân trọng những con người ngày đêm giữ biển và ý thức trách nhiệm bảo vệ chủ quyền quốc gia.
Câu 5
Từ đoạn trích, em nhận thức sâu sắc trách nhiệm của bản thân trong việc bảo vệ biển đảo quê hương. Trước hết, mỗi người trẻ cần nuôi dưỡng lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc và ý thức về chủ quyền biển đảo. Tích cực học tập, tìm hiểu lịch sử về biển đảo Việt Nam. Có trách nhiệm tuyên truyền, lan tỏa những thông tin đúng đắn, phản bác các quan điểm sai trái bởi bảo vệ biển đảo chính là bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ và tương lai của Tổ quốc.
Câu 1
Văn bản thể hiện tâm trạng nhớ quê, hoài niệm của nhân vật trữ tình khi sống nơi đất khách, xa quê hương.
Câu 2
Những hình ảnh khiến nhân vật trữ tình ngỡ như quê ta: Nắng, mây trắng, đồi nhuộm vàng, nắng soi vào cây, lá.
Câu 3
Cảm hứng chủ đạo của văn bản là nỗi nhớ quê hương da diết của người xa xứ, xen lẫn cảm giác cô đơn, lạc lõng nơi đất khách quê người.
Câu 4
Ở khổ thơ đầu những hình ảnh nắng vàng, mây trắng gợi cảm giác thân quen, ấm áp, khiến nhân vật trữ tình ngỡ như đang ở quê nhà.
Ở khổ thơ thứ ba những hình ảnh ấy hiện lên không còn sự thân thuộc của quê hương mình mà lại là ở nơi xa lạ. Làm nổi bật nỗi nhớ quê và thân phận lữ thứ, buồn hơn, thấm thía hơn.
Câu 5
Em ấn tượng nhất với hình ảnh “Ngó xuống mũi giày thì lữ thứ/ Bụi đường cũng bụi của người ta”.
Vì hình ảnh giản dị mà sâu sắc, gợi rõ thân phận cô đơn của người con xa quê lạc lõng, bơ vơ, con đường đang đi cũng xa lạ, cảm giác không thuộc về nơi mình đang đứng.