Nguyễn Trung Kiên
Giới thiệu về bản thân
Câu 1:
Phương thức biểu đạt chính: nghị luận
Câu 2:
Nội dung chính của đoạn trích:
Văn bản bàn về ý nghĩa của cái chết đối với người sống. Mỗi lần có một người rời khỏi thế gian, đó là lời nhắc nhở để con người nhìn lại cách mình sống, bỏ bớt ích kỉ, tham vọng và đối xử tốt đẹp hơn với những người đang sống xung quanh.
Câu 3:
Trong đoạn (7), tác giả sử dụng biện pháp tu từ so sánh: đời sống như “một cánh đồng”, cái chết như “một cánh đồng bên cạnh”.
Hiệu quả:
– Làm cho vấn đề trừu tượng (cái chết) trở nên cụ thể, dễ hiểu và gần gũi.
– Gợi ra cảm giác bình thản, nhẹ nhàng, giúp người đọc bớt sợ hãi và nhìn cái chết như một sự chuyển tiếp tự nhiên.
– Khơi gợi suy ngẫm: nếu coi sau cái chết là “một cánh đồng sự sống khác” thì con người sẽ bớt tham lam, ích kỷ và sống nhân văn hơn trong cánh đồng hiện tại.
Câu 4:
Tác giả cho rằng: cái chết chứa đựng một lời nhắc nhở mạnh mẽ để người sống biết sống tốt hơn – sống chân thật, biết chia sẻ, yêu thương, bớt ích kỉ và trân trọng những người đang ở bên mình.
iem đồng tình với ý kiến này. Cái chết khiến con người ý thức rõ sự hữu hạn của đời sống và nhìn lại những hành vi chưa đúng với những người xung quanh. Khi chứng kiến sự ra đi của ai đó, ta dễ nhận ra điều thật sự quan trọng là tình thương và sự bao dung. Nhờ vậy, mỗi người có thể sống tử tế hơn và tránh lặp lại những sai lầm trong cách đối xử với người còn đang sống.
Câu 5:
Thông điệp ý nghĩa nhất rút ra từ văn bản: hãy đối xử tốt với những người đang sống bên cạnh mình, bởi cái chết luôn nhắc nhở con người về sự ngắn ngủi của đời sống và giá trị của tình yêu thương.
Bởi con người thường chỉ day dứt khi đã mất đi ai đó, nhưng lúc họ còn sống lại dễ vô tâm. Thông điệp này giúp chúng ta biết trân trọng hiện tại, sống nhân ái hơn và không phải hối hận khi quá muộn.
Câu 1:
Ngôi kể của văn bản: ngôi thứ ba (nhân vật “cô” – Chi-hon – được kể qua ngôi kể thứ ba).
Câu 2:
Điểm nhìn trong đoạn trích: điểm nhìn của nhân vật Chi-hon – người con gái đang hồi tưởng và tự vấn về mẹ mình.
Câu 3:
-Biện pháp nghệ thuật: phép lặp cấu trúc (lặp lại kiểu câu “Lúc mẹ… cô đang…”).
-Tác dụng: làm tăng sự gợi hình gợic cảm cho câu văn và nhấn mạnh sự đối lập giữa lúc mẹ gặp nạn và lúc người con đang mải mê với công việc; gợi cảm giác day dứt, ân hận; làm nổi bật khoảng cách vô tâm giữa con và mẹ.
Câu 4:
-Phẩm chất của người mẹ: tảo tần, hi sinh, luôn quan tâm đến con, giàu yêu thương và chịu đựng.
-Câu văn thể hiện: “Mẹ nắm chặt tay cô, bước đi giữa biển người với phong thái có thể đe dọa cả những tòa nhà lừng lững…”.
Câu 5:
-Chi-hon hối tiếc vì đã không chịu mặc thử chiếc váy mà mẹ chọn, khiến mẹ buồn; hối tiếc vì nhiều lần vô tâm, không dành thời gian cho mẹ, để đến khi mẹ lạc mới nhận ra.Đoạn văn 4–5 câu:
-Trong cuộc sống, đôi khi chúng ta vô tình làm tổn thương những người thân yêu nhất vì sự thờ ơ hoặc quá bận rộn với những mối quan tâm riêng. Chỉ một lời nói lạnh lùng hay một lần từ chối có thể khiến cha mẹ hoặc người thân buồn lòng mà ta không nhận ra. Sự vô tâm ấy tích lại thành day dứt khi ta đánh mất cơ hội để yêu thương và chăm sóc họ. Vì vậy, mỗi người cần sống chậm lại, trân trọng từng khoảnh khắc và thể hiện tình cảm với gia đình nhiều hơn. Chỉ khi quan tâm đúng lúc, ta mới không phải hối hận khi đã quá muộn.