Bàn Thị Lâm Vệ
Giới thiệu về bản thân
a. Hệ vận động ở người có cấu tạo gồm bộ xương và hệ cơ.
- Xương được cấu tạo từ chất hữu cơ và chất khoáng. Bộ xương ở người được chia thành ba phần: xương đầu, xương thân, xương chi. Nơi tiếp giáp giữa các đầu xương là khớp xương.
- Cơ bám vào xương nhờ các mô liên kết như dây chằng, gân.
b. Tập thể dục, thể thao vừa sức, đều đặn giúp nâng cao sức khỏe và hệ vận động.
- Tăng lưu lượng máu và oxygen tới não → hệ thần kinh linh hoạt hơn.
- Tăng thể tích oxygen khuếch tán vào máu và tăng tốc độ vận động của các cơ hô hấp → tăng sức khỏe hệ hô hấp.
- Tăng phân giải → duy trì cân nặng hợp lí.
- Kích thích tạo tế bào cơ, tăng hấp thu glucose và sử dụng oxygen, tăng lưu lượng máu đến cơ → tăng sức bền của cơ và tăng khối lượng cơ.
- Tim đập nhanh hơn và máu chảy nhanh hơn → cơ tim và thành mạch khỏe hơn.
- Màng hoạt dịch tiết chất nhầy đầy đủ, dây chằng vững chắc, dẻo dai hơn → khớp khỏe hơn.
- Kích thích các tế bào tạo xương, sụn ở đầu xương → tăng khối lượng và kích thước xương
Đun bếp than trong phòng kín sẽ xảy ra hiện tượng sau:
- Do phòng kín nên không khí khó lưu thông được với bên ngoài (thậm chí không thể lưu thông với bên ngoài). Khi đun bếp than thì lượng O2 có trong phòng đã tham gia vào phản ứng cháy, đồng thời tạo ta khí CO2 và CO.
- Hàm lượng khí O2 giảm, hàm lượng CO2 tăng.
- CO dễ dàng kết hợp với hemoglobin trong máu tạo thành carboxyhemoglobin (một hợp chất rất bền, khó bị phân tách), do đó máu thiếu hemoglobin tự do chuyên chở O2 dẫn đến tế bào thiếu O2 nên gây ra hiện tượng ngạt thở.
Ý kiến đó sai vì tiêm vaccine và tiêm kháng sinh có bản chất khác nhau.
- Tiêm vaccine là tiêm các loại kháng nguyên đã bị làm yếu để kích thích cơ thể tạo ra kháng thể chống lại bệnh do kháng nguyên có thể gây ra (chủ động).
- Tiêm kháng sinh là tiêm trực tiếp kháng thể kháng bệnh vào cơ thể giúp cơ thể khỏi bệnh (bị động).
a. Khi sờ tay vào mặt bàn ta cảm thấy mặt bàn nhôm lạnh hơn mặt bàn gỗ vì nhôm dẫn nhiệt tốt hơn gỗ nên khi sờ vào bàn nhôm ta mất nhiệt lượng nhiều hơn khi ta sờ tay vào bàn gỗ.
b. Khi đun nước người ta chỉ đổ nước tới vạch max theo hướng dẫn của nhà sản xuất mà không đổ thật đầy ấm vì khi đun, nước bên trong ấm sẽ nở ra (do sự nở vì nhiệt), tác dụng lực đẩy vào nắp ấm làm nắp ấm bật ra và nước tràn ra.
a. Dòng điện là dòng chuyển dời có hướng của các hạt mang điện.
Các thiết bị hoạt động khi có dòng điện chạy qua: bóng đèn, tủ lạnh, quạt điện,...
b. Mạch điện kín là mạch điện có dòng điện chạy trong đó; mạch điện hở là mạch điện không có dòng điện chạy trong đó.
c. Mạch điện gồm nguồn điện, dây dẫn, công tắc, bóng đèn, chuông điện.
Thiết bị cung cấp điện: nguồn điện.
Thiết bị tiêu thụ điện: bóng đèn, chuông điện.
Chiều dòng điện theo hướng từ cực (+) của nguồn điện, qua công tắc, qua bóng đèn, qua chuông điện đến cực âm (-) của nguồn điện.
a. Nếu nhiệt độ hai cốc nước khác nhau thì thuốc tím ở cốc nước có nhiệt độ cao hơn sẽ lan ra nhanh hơn vì cốc nước có nhiệt độ cao hơn thì có năng lượng nhiệt lớn hơn các phân tử nước sẽ chuyển động nhanh hơn.
b. Nội năng của đá vĩnh cửu tăng lên còn nội năng của nước trong cốc giảm đi.
Vì khi thả đá vĩnh cửu vào cốc nước ở nhiệt độ phòng thì sẽ có sự truyền nhiệt từ cốc nước sang đá vĩnh cửu (do cốc nước có nhiệt độ cao hơn đá vĩnh cửu), làm cốc nước giảm nhiệt độ khiến các phân tử nước chuyển động chậm lại còn đá vĩnh cửu tăng nhiệt độ khiến các phân tử, nguyên tử của nó chuyển động nhanh hơn.
Hè năm ngoái, lớp em đã tổ chức một chuyến tham quan về nguồn đầy ý nghĩa tại khu di tích lịch sử Pác Bó, Cao Bằng. Đó là một trải nghiệm mà tôi sẽ không bao giờ quên.
Sáng sớm, chúng em tập trung tại cổng trường với tâm trạng háo hức. Sau nhiều giờ di chuyển bằng xe khách, khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ, xanh mướt của núi rừng biên giới dần hiện ra trước mắt. Điểm dừng chân đầu tiên là hang Pác Bó – nơi Bác Hồ từng sống và làm việc sau khi trở về nước. Bước vào hang, một không khí trang nghiêm bao trùm. Chúng em lặng lẽ lắng nghe cô hướng dẫn viên kể về cuộc sống gian khổ nhưng đầy ý chí của vị lãnh tụ vĩ đại. Hình ảnh chiếc bàn đá, nơi Bác dịch sử Đảng, vẫn còn đó, mộc mạc và giản dị. Tiếp theo, chúng em đến thăm suối Lê Nin. Dòng nước trong vắt, xanh ngọc bích, chảy róc rách qua những ghềnh đá, tạo nên một bức tranh sơn thủy hữu tình. Chúng em được phép lội xuống suối, cảm nhận sự mát lạnh, sảng khoái và cùng nhau chụp những bức ảnh lưu niệm.
Chuyến đi không chỉ giúp chúng em hiểu thêm về lịch sử hào hùng của dân tộc mà còn thắt chặt tình đoàn kết bạn bè. Qua những câu chuyện, những hiện vật lịch sử, lòng yêu nước và tự hào dân tộc trong mỗi chúng tôi càng được khơi dậy mạnh mẽ.
Câu 1. Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú luật Đường.
Câu 2. Những hình ảnh thiên nhiên được nhắc đến trong bốn dòng thơ đầu: hoè lục đùn đùn; thạch lựu phun thức đỏ; hồng liên trì tiễn mùi hương.
(HS cũng có thể diễn đạt: hoa hoè sum suê, thạch lựu nở hoa đỏ chói; hoa sen đến mùa nở rộ;…)
Câu 3.
– Biện pháp đảo ngữ: từ “lao xao”, “dắng dỏi” được đảo lên đầu các dòng thơ “Lao xao chợ cá làng ngư phủ,/ Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương.”.
– Tác dụng:
+ Tạo nhạc điệu, gợi sự sôi nổi của đời sống.
+ Nhấn mạnh âm thanh sống động trong đời sống lao động của con người.
+ Làm nổi bật bức tranh mùa hè không chỉ có màu sắc, hương vị mà còn có âm thanh chân thực của con người và thiên nhiên.
Câu 4. Trong hai dòng thơ cuối, tác giả đã bộc lộ tình cảm, cảm xúc:
– Niềm mong ước thái bình: hình ảnh “Ngu cầm” gợi thời Nghiêu – Thuấn, nhân dân sống yên vui, hạnh phúc.
– Tình yêu thương nhân dân: ước muốn “dân giàu đủ khắp đòi phương” cho thấy tác giả lo cho đời sống muôn dân, không nghĩ riêng cho bản thân.
– Khát vọng nhân văn: Nguyễn Trãi gửi gắm tư tưởng “lấy dân làm gốc”, mong mỏi hạnh phúc chung cho xã hội.
=> Hai dòng thơ bộc lộ tình yêu dân, thương dân và khát vọng về một xã hội thái bình, nhân dân ấm no, hạnh phúc.
Câu 5.
– Chủ đề của bài thơ: Ca ngợi vẻ đẹp rực rỡ, sinh động của thiên nhiên ngày hè và thể hiện tấm lòng yêu đời, yêu dân, lo cho dân của Nguyễn Trãi.
– Căn cứ để xác định chủ đề:
+ Nhan đề của văn bản: “Cảnh ngày hè”.
+ Các từ ngữ miêu tả khung cảnh thiên nhiên; bộc lộ tình cảm, cảm xúc của tác giả.
+ Nội dung chính của các phần.
(HS cần nêu được 02 căn cứ phù hợp, thuyết phục)
Câu 6.
– Hình thức:
+ Mô hình đoạn văn phù hợp, đảm bảo không mắc lỗi diễn đạt, chính tả.
+ Dung lượng: ngắn gọn, từ 5 đến 7 dòng.
– Nội dung: Rút ra bài học trong việc giữ gìn tinh thần lạc quan, biết tận hưởng những điều bình dị quanh mình.
+ Biết trân trọng những điều giản dị trong đời sống: cảnh vật, âm thanh, sắc màu quanh ta.
+ Giữ cho mình tinh thần lạc quan, tìm thấy niềm vui ngay trong cuộc sống thường ngày, kể cả trong học tập, lao động.
+ Sống chan hoà với thiên nhiên, biết bảo vệ và làm giàu đẹp môi trường sống.

a) Do \(A B C D\) là hình bình hành nên \(A D\) // \(B C\) và \(A D = B C\).
Do AD//BC nên góc ADB=góc CBD (so le trong).
Xét ∆ADH và ∆CBK có:
Góc AHD=góc CKB=90°
AD=BC(cmt)
Góc ADH=góc CBK (do góc ADB=góc CBD).
Do đó ∆ADH=∆CBK(cạnh huyền - góc nhọn).
Suy ra \(A H = C K\) (hai cạnh tương ứng).
Ta có AH vuông góc với DB và CK vuông góc với DN nên AH//CK
Tứ giác \(A H C K\) có \(A H\) // \(C K\) và \(A H = C K\) nên \(A H C K\) là hình bình hành (dấu hiệu nhận biết).
b) Do \(A H C K\) là hình bình hành (câu a) nên hai đường chéo \(A C\) và \(H K\) cắt nhau tại trung điểm của mỗi đường.
Mà \(I\) là trung điểm của \(H K\) (giả thiết) nên \(I\) là trung điểm của \(A C\).
Do \(A B C D\) là hình bình hành nên hai đường chéo \(A C\) và \(B D\) cắt nhau tại trung điểm của mỗi đường.
Mà \(I\) là trung điểm của \(A C\) nên \(I\) là trung điểm của \(B D\), hay \(I B = I D\).

Vì \(A B C D\) là hình bình hành nên ta có:
+ Hai đường chéo \(A C\) và \(B D\) cắt nhau tại \(O\) nên \(O A = O C\), \(O B = O D\).
+ \(A B\) // \(C D\) nên \(A M\) // \(C N\) suy ra
góc OAM=góc OCN (hai góc so le trong).
Xét tam giác OAM và tam giác OCN có:
Góc OAM=góc OCN (cmt)
OA=OC(cmt)
Góc OAM=góc OCN (hai góc đối đỉnh)
Do tam giác OAM=tam giác OCN (g.c.g)
Suy ra \(A M = C N\) (hai cạnh tương ứng).
Mặt khác, \(A B = C D\) (chứng minh trên);
\(A B = A M + B M\); \(C D = C N + D N\).
Suy ra \(B M = D N\).
Xét tứ giác \(M B N D\) có:
\(B M\) // \(D N\) (vì \(A B\) // \(C D\))
\(B M = D N\) (chứng minh trên)
Do đó, tứ giác \(M B N D\) là hình bình hành.