Lý Khánh Chi
Giới thiệu về bản thân
Mô phân sinh đỉnh | Mô phân sinh bên | |
Vị trí | Đỉnh rễ và các chồi thân | Nằm giữa mạch gỗ và mạch rây |
Vai trò | Giúp thân, cành, rễ tăng về chiều dài | Giúp thân, cành, rễ tăng về chiều ngang |
Biện pháp tăng năng suất cây trồng | Dựa trên cơ sở hiện tượng cảm ứng |
Làm đất tơi xốp, thoáng khí | Tính hướng đất của rễ |
Tưới nước thường xuyên, giữ ẩm cho đất | Tính hướng đất của rễ |
Trồng xen canh nhiều loại cây trồng | Tính hướng sáng |
Làm giàn, cọc cho các cây thân leo | Tính hướng tiếp xúc |
Tăng cường ánh sáng nhân tạo | Sinh trưởng và phát triển theo chu kì ngày đêm |
a. Sinh sản vô tính là hình thức sinh sản không có sự kết hợp của giao tử đực và giao tử cái, cơ thể con được tạo thành từ một phần của cơ thể mẹ.
b.
| Nảy chồi | Phân mảnh | Trinh sản |
Khái niệm | Chồi được mọc ra từ cơ thể mẹ | Cơ thể con phát triển từ mảnh nhỏ riêng biệt của cơ thể mẹ | Tế bào trứng không được thụ tinh phát triển thành cơ thể mới |
Ví dụ | Thủy tức, san hô | Sao biển, giun dẹp | Ong |
a. Các giai đoạn sinh trưởng và phát triển trong vòng đời của bướm: trứng → ấu trùng (sâu) → nhộng → bướm.
b. Ở giai đoạn sâu thì bướm gây hại cho mùa màng vì ở giai đoạn này thức ăn của nó là lá.
Gọi \(D\) là giao điểm của \(A G\) và \(B C \Rightarrow D B = D C\).
Ta có \(B G = \frac{2}{3} B E\); \(C G = \frac{2}{3} C F\) (tính chất trọng tâm).
Vì \(B E = C F\) nên \(B G = C G \Rightarrow \triangle B C G\) cân tại \(G\)
\(\Rightarrow \hat{G C B} = \hat{G B C}\)
Xét \(\triangle B F C\) và \(\triangle C E B\) có \(C F = B E\) (giả thiết);
\(\hat{G C B} = \hat{G B C}\) (chứng minh trên);
\(B C\) là cạnh chung.
Do đó \(\triangle B F C = \triangle C E B\) (c.g.c)
\(\Rightarrow \hat{F B C} = \hat{E C B}\) (hai góc tưong ứng)
\(\Rightarrow \triangle A B C\) cân tại \(A \Rightarrow A B = A C\).
Từ đó suy ra \(\triangle A B D = \triangle A C D\) (c.c.c)
\(\Rightarrow \hat{A D B} = \hat{A D C}\). (hai góc tương ứng)
Mà \(\hat{A D B} + \hat{A D C} = 18 0^{\circ} \Rightarrow \hat{A D B} = \hat{A D C} = 9 0^{\circ} \Rightarrow A D \bot B C\) hay \(A G \bot B C\).
a) Ta có \(D M = D G \Rightarrow G M = 2 G D\).
Ta lại có \(G\) là giao điểm của \(B D\) và \(C E \Rightarrow G\) là trọng tâm của tam giác \(A B C\)
\(\Rightarrow B G = 2 G D\).
Suy ra \(B G = G M\).
Chứng minh tương tự ta được \(C G = G N\).
b) Xét tam giác \(G M N\) và tam giác \(G B C\) có \(G M = G B\) (chứng minh trên);
\(\hat{M G N} = \hat{B G C}\) (hai góc đối đỉnh);
\(G N = G C\) (chứng minh trên).
Do đó \(\triangle G M N = \triangle G B C\) (c.g.c)
\(\Rightarrow M N = B C\) (hai cạnh tương ứng).
Theo chứng minh trên \(\triangle G M N = \triangle G B C \Rightarrow \hat{N M G} = \hat{C B G}\) (hai góc tương ứng).
Mà \(\hat{N M G}\) và \(\hat{C B G}\) ờ vị trí so le trong nên \(M N\) // \(B C\).
a) Ta có \(B F = 2 B E \Rightarrow B E = E F\).
Mà \(B E = 2 E D\) nên \(E F = 2 E D \Rightarrow D\) là trung điểm của \(E F \Rightarrow C D\) là đường trung tuyến của tam giác \(E F C\).
Vì \(K\) là trung điểm của \(C F\) nên \(E K\) là đường trung tuyến của \(\triangle E F C\).
\(\triangle E F C\) có hai đường trung tuyến \(C D\) và \(E K\) cắt nhau tại \(G\) nên \(G\) là trọng tâm của \(\triangle E F C\).
b) Ta có \(G\) là trọng tâm tam giác \(E F C\) nên \(\frac{G C}{D C} = \frac{2}{3}\) và \(G E = \frac{2}{3} E K\)
\(\Rightarrow G K = \frac{1}{3} E K \Rightarrow G E = 2 G K \Rightarrow \frac{G E}{G K} = 2\).
a) Xét tam giác \(A B D\) có \(C\) là trung điểm của cạnh \(A D \Rightarrow B C\) là trung tuyến của tam giác \(A B D\).
Hơn nữa \(G \in B C\) và \(G B = 2 G C \Rightarrow G B = \frac{2}{3} B C \Rightarrow G\) là trọng tâm tam giác \(A B D\).
Lại có \(A E\) là đường trung tuyến của tam giác \(A B D\) nên \(A , G , E\) thẳng hàng.
b) Ta có \(G\) là trọng tâm tam giác \(A B D \Rightarrow D G\) là đường trung tuyến của tam giác này.
Suy ra \(D G\) đi qua trung điểm của cạnh \(A B\) (điều phài chứng minh).
a) Ta có \(\triangle A B C\) cân tại \(A \Rightarrow A B = A C\) mà \(A B = 2 B E\); \(A C = 2 C D\) (vì \(E , D\) theo thứ tự là trung điểm của \(A B\), \(A C \left.\right)\).
Do đó ta có \(2 B E = 2 C D\) hay \(B E = C D\).
Xét \(\triangle B C E\) và \(\triangle C B D\) có \(B E = C D\) (chứng minh trên);
\(\hat{E B C} = \hat{D C B}\);
\(B C\) là cạnh chung.
Do đó \(\triangle B C E = \triangle C B D\) (c.g.c)
\(\Rightarrow C E = B D\) (hai cạnh tương ứng).
b) Ta có \(G\) là trọng tâm tam giác \(A B C\) nên \(B G = \frac{2}{3} B D\) và \(C G = \frac{2}{3} C E\) (tính chất trọng tâm).
Mà \(C E = B D\) (phần a) nên \(\frac{2}{3} C E = \frac{2}{3} B D\) hay \(C G = B G\).
Vậy tam giác \(G B C\) cân tại \(G\).
c) Ta có \(G B = \frac{2}{3} B D \Rightarrow G D = \frac{1}{3} B D \Rightarrow G B = 2 G D \Rightarrow G D = \frac{1}{2} G B\)
Chứng minh tương tự, ta có \(G E = \frac{1}{2} G C\).
Do đó \(G D + G E = \frac{1}{2} G B + \frac{1}{2} G C = \frac{1}{2} \left(\right. G B + G C \left.\right)\).
Mà \(G B + G C > B C\) (trong một tam giác tổng độ dài hai cạnh lớn hơn cạnh còn lại).
Do đó \(G D + G E > \frac{1}{2} B C\) (điều phải chứng minh).
a) Ta có \(\triangle A B C\) cân tại \(A \Rightarrow A B = A C\) mà \(A B = 2 B E\); \(A C = 2 C D\) (vì \(E , D\) theo thứ tự là trung điểm của \(A B\), \(A C \left.\right)\).
Do đó ta có \(2 B E = 2 C D\) hay \(B E = C D\).
Xét \(\triangle B C E\) và \(\triangle C B D\) có \(B E = C D\) (chứng minh trên);
\(\hat{E B C} = \hat{D C B}\);
\(B C\) là cạnh chung.
Do đó \(\triangle B C E = \triangle C B D\) (c.g.c)
\(\Rightarrow C E = B D\) (hai cạnh tương ứng).
b) Ta có \(G\) là trọng tâm tam giác \(A B C\) nên \(B G = \frac{2}{3} B D\) và \(C G = \frac{2}{3} C E\) (tính chất trọng tâm).
Mà \(C E = B D\) (phần a) nên \(\frac{2}{3} C E = \frac{2}{3} B D\) hay \(C G = B G\).
Vậy tam giác \(G B C\) cân tại \(G\).
c) Ta có \(G B = \frac{2}{3} B D \Rightarrow G D = \frac{1}{3} B D \Rightarrow G B = 2 G D \Rightarrow G D = \frac{1}{2} G B\)
Chứng minh tương tự, ta có \(G E = \frac{1}{2} G C\).
Do đó \(G D + G E = \frac{1}{2} G B + \frac{1}{2} G C = \frac{1}{2} \left(\right. G B + G C \left.\right)\).
Mà \(G B + G C > B C\) (trong một tam giác tổng độ dài hai cạnh lớn hơn cạnh còn lại).
Do đó \(G D + G E > \frac{1}{2} B C\) (điều phải chứng minh).