Nguyễn Thị Thư
Giới thiệu về bản thân
câu 1
Bài thơ "Than đạo học" là một tiếng thở dài đầy đau xót của tác giả trước thực trạng suy vi của nền giáo dục đương thời. Về nội dung, tác giả đã bóc trần sự thật phũ phàng khi việc học đạo thánh hiền vốn cao quý nay lại bị biến tướng thành công cụ mưu cầu danh lợi và hư vinh. Nỗi trăn trở ấy không chỉ dừng lại ở việc phê phán mà còn thể hiện cái tâm của một người trí thức nặng lòng với đạo đức và nhân cách con người. Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể thơ Đường luật với cấu trúc chặt chẽ, ngôn từ sắc sảo và hình ảnh giàu sức gợi. Đặc biệt, việc sử dụng các phép đối tài tình và giọng điệu vừa mỉa mai, vừa u buồn đã làm nổi bật sự đối lập giữa lý tưởng học vấn và thực tế băng hoại. Qua đó, bài thơ gửi gắm thông điệp sâu sắc về giá trị đích thực của tri thức, khiến người đọc phải suy ngẫm về mục đích học tập trong mọi thời đại.
câu 2
Câu 1. Xác định thể thơ của bài thơ.Bài thơ được viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật (8 câu, mỗi câu 7 chữ, tuân thủ luật bằng trắc và niêm luật chặt chẽ).
Câu 2. Đề tài của bài thơ này là gì?Đề tài: Sự suy tàn của Nho học (Đạo học) và tình cảnh bi hài của các nhà nho trong buổi giao thời (khi thực dân Pháp bắt đầu thay đổi chế độ thi cử, chữ Hán mất dần vị thế).
Câu 3. Vì sao tác giả cho rằng "Đạo học ngày nay đã chán rồi"?Tác giả cảm thấy "chán" vì thực trạng giáo dục và thi cử lúc bấy giờ đã mất đi sự tôn nghiêm và giá trị vốn có:Sự sa sút về số lượng và tâm huyết: "Mười người đi học, chín người thôi", người học không còn mặn mà với con chữ.Sự thờ ơ, uể oải: Cô hàng bán sách "lim dim ngủ", thầy đồ dạy tư thì "nhấp nhổm" không yên.Sự biến chất của kẻ sĩ: Người đi học mất đi khí tiết ("rụt rè"), văn chương trở thành công cụ thực dụng, "liều lĩnh đấm ăn xôi" để mưu cầu lợi lộc vật chất thay vì lý tưởng cao đẹp.
Câu 4. Nhận xét về việc tác giả sử dụng những từ láy trong bài thơ.Các từ láy như: lim dim, nhấp nhổm, rụt rè, liều lĩnh được sử dụng rất đắc địa:Giá trị biểu cảm: Góp phần tạo nên giọng điệu trào phúng, mỉa mai đặc trưng của Tú Xương.Giá trị tạo hình: Khắc họa sinh động những dáng vẻ, tâm trạng của các nhân vật. "Lim dim", "nhấp nhổm" gợi sự chán chường, bấp bênh; "rụt rè", "liều lĩnh" cho thấy sự bạc nhược và xuống cấp về nhân cách của giới tri thức đương thời.Tác dụng: Làm nổi bật bức tranh hiện thực nhốn nháo, suy đồi của nền học vấn cũ trước sức ép của thời đại mới.
Câu 5
Văn bản (thường là bài thơ "Ông đồ" của Vũ Đình Liên hoặc các tác phẩm cùng thời kỳ) đã phản ánh:Bối cảnh lịch sử: Sự suy tàn của Nho học và nền Đạo học truyền thống vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX dưới tác động của văn hóa Tây phương.Tâm trạng tác giả:Nỗi buồn, sự chua xót trước cảnh cũ người xưa bị bỏ rơi.Sự trăn trở khi những giá trị tinh thần (sĩ khí, học vấn) bị xem nhẹ.Thực trạng xã hội:Con người dần rời xa các lý tưởng cao đẹp.Chuyển sang lối sống thực dụng, chạy theo lợi ích vật chất trước mắt.
câu 1
Đoạn trích trong "Truyện Kiều" của Nguyễn Du thể hiện bút pháp nghệ thuật bậc thầy, kết hợp hài hòa giữa tả cảnh ngụ tình, bút pháp ước lệ tượng trưng và ngôn ngữ bình dân tinh tế. Nổi bật là nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật sắc sảo thông qua ngôn ngữ đối thoại/độc thoại nội tâm và cảnh vật (như trong Cảnh ngày xuân hay Kiều ở lầu Ngưng Bích), nơi cảnh vật thấm đượm nỗi buồn hoặc khát vọng của con người. Nguyễn Du sử dụng ngôn ngữ Nôm kết hợp với thể thơ lục bát uyển chuyển, từ ngữ giàu hình ảnh và các điển tích, điển cố được vận dụng sáng tạo, tạo nên bức tranh tâm trạng nhân vật sâu sắc, chân thực. Qua đó, tác giả không chỉ khắc họa thành công vẻ đẹp, tài năng hay bi kịch nhân vật mà còn gửi gắm lòng nhân đạo cao cả, khẳng định tài năng bậc thầy trong việc khắc họa nội tâm, biến mỗi dòng thơ thành một bức tranh nghệ thuật đặc sắc.
câu 2
câu 1
Thể thơ: lục bát
câu 2
Hai nhân vật Từ Hải và Thuý Kiều gặp nhau ở lầu xanh
câu 3
Nhận xét về ngôn ngữ nói của nhân vật Thuý Kiều qua bốn câu thơ: Dịu dàng, từ tốn , sử dụng điển cố, điển tích, vận dụng lối nói ẩn dụ, bóng gió để gởi gắm tâm tư, tình cảm của bản thân
câu 4
Nhận xét về nhân vật Từ Hải qua đoạn trích:
+ Ngoại hình : oai phong lẫm liệt, đúng hình mẫu một anh hùng
+ Ngôn ngữ : Nhẹ nhàng, từ tốn, hào sảng, phóng khoáng
+ Hành động: Tôn trọng Kiều (“ thiếp danh đưa đến lầu hồng”) , xem Kiều như người tri kỉ, cứu Kiều ra khỏi lầu xanh, cùng Kiều “ Phỉ quyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng”
=> Hành động nhanh chóng , dứt khoát
câu 5
câu 1
Đoạn trích phần đầu truyện Thạch Sanh – Lý Thông mang những nét đặc sắc tiêu biểu về nội dung và nghệ thuật của truyện cổ tích dân gian Việt Nam. Trước hết, về nội dung, đoạn trích đã khắc họa rõ hai tuyến nhân vật đối lập: Thạch Sanh hiền lành, thật thà, có nguồn gốc kì lạ, đại diện cho cái thiện; trong khi đó Lý Thông gian xảo, tham lam, tiêu biểu cho cái ác. Qua sự đối lập ấy, nhân dân thể hiện ước mơ về công lí xã hội, niềm tin rằng người tốt dù nghèo khổ vẫn sẽ được thần linh giúp đỡ và cuối cùng chiến thắng cái xấu.
Về nghệ thuật, đoạn trích gây ấn tượng bởi yếu tố kì ảo như sự ra đời khác thường của Thạch Sanh, sự xuất hiện của thiên thần, phép màu… Những chi tiết này làm cho câu chuyện trở nên hấp dẫn, sinh động và giàu sức tưởng tượng. Bên cạnh đó, cách kể chuyện mộc mạc, ngôn ngữ giản dị, dễ hiểu giúp truyện gần gũi với mọi tầng lớp nhân dân. Nhờ vậy, đoạn trích không chỉ có giá trị giải trí mà còn mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc về đạo đức và lẽ sống.
câu 2
câu 1
Thể thơ: Lục bát
câu 2
Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản: Biểu cảm, tự sự và miêu tả
câu 3
- Những sự kiện chính của văn bản:
+ Thạch Sanh bị hồn chằn tinh và đại bàng tinh vu oan nên bị bắt giam vào ngục
+ Tiếng đàn của Thạch Sanh đến tai công chúa, giúp chàng có cơ hội nói rõ mọi sụ thật. Chàng được phong làm phò mã
+Thạch Sanh tha thứ cho Lý Thông nhưng trên đường về quê mẹ con Lý Thông vẫn bị sét đánh
- Mô tả cốt truyện: Nhân quả
câu 4
Hồn chằn tinh và đại bàng tinh vu oan cho Thạch Sanh. Thể hiện một cách sinh động tai hoạ sảy đến với Thạch Sanh mà còn giúp cho văn bản thêm đặc sắc, hấp dẫn cho người đọc
câu 5
- Giống về nội dung:
+ Đều bao gồm những sự kiện chính, chi tiết đặc sắc trong tác phẩm
+ Đều kết hợp sử dụng nhiều phương thức biểu đạt
- Khác về hình thức
+ Văn bản thơ:
+ Sử dụng thơ lục bát, có cách ngắt nhịp, gieo vần linh hoạt
+ Xuất hiện nhiều yếu tố biểu cảm, đan xem với yếu tố tự sự
+ Văn bản truyện:
+ Có hình thức là văn xuôi, có sụ xuất hiện của người kể chuyện
+ Yếu tố tự sự là chủ yếu là trong toàn bộ văn bản
+
Câu 1
Nhân vật bé Em trong văn bản “Áo Tết” là một hình tượng giàu ý nghĩa nhân văn, thể hiện vẻ đẹp tâm hồn hồn nhiên, trong sáng và giàu tình cảm của tuổi thơ. Ban đầu, bé Em là cô bé rất mong muốn có chiếc áo đầm mới để mặc trong ngày Tết, bởi với Em, chiếc áo là biểu tượng của niềm vui và hạnh phúc. Tuy nhiên, khi thấy bạn mình – bé Hồng – buồn vì không có áo mới, Em đã dằn lòng, nhường chiếc áo quý giá cho bạn. Hành động ấy thể hiện sự thay đổi trong nhận thức: từ mong muốn cá nhân sang tình cảm sẻ chia, biết đặt niềm vui của người khác lên trên lợi ích của bản thân. Qua nhân vật bé Em, tác giả gửi gắm thông điệp sâu sắc về giá trị của tình bạn, về lòng nhân ái và sự trưởng thành trong tâm hồn trẻ thơ. Bé Em chính là tấm gương nhỏ bé nhưng sáng đẹp, nhắc nhở mỗi người biết sống yêu thương, nhân hậu và biết trân trọng những giá trị tinh thần hơn vật chất.
Câu 2
Trong cuộc sống hiện đại, con người không thể sống thiếu cả vật chất lẫn tinh thần. Vật chất giúp chúng ta tồn tại, còn tinh thần giúp chúng ta sống có ý nghĩa. Câu chuyện trong văn bản “Áo Tết”, khi bé Em nhận ra tình bạn chân thành quan trọng hơn chiếc áo đầm mới, là một minh chứng sâu sắc cho bài học về sự cân bằng giữa hai giá trị ấy.
Vật chất là nền tảng đảm bảo cuộc sống, giúp con người có điều kiện học tập, làm việc và tận hưởng hạnh phúc. Tuy nhiên, nếu chỉ chạy theo vật chất, con người dễ trở nên ích kỷ, lạnh lùng và đánh mất những giá trị nhân văn. Ngược lại, đời sống tinh thần mang lại cho con người niềm vui, sự sẻ chia, lòng yêu thương và ý nghĩa sống. Nhưng nếu chỉ sống bằng lý tưởng tinh thần mà không quan tâm đến vật chất, chúng ta khó có thể tồn tại và cống hiến cho xã hội. Vì thế, sự hài hòa giữa hai yếu tố này là điều cần thiết để tạo nên cuộc sống bền vững, hạnh phúc và nhân ái.
Để đạt được sự cân bằng ấy, mỗi người cần học cách sống giản dị, biết đủ và trân trọng những gì mình có. Chúng ta nên làm việc chăm chỉ để tạo ra giá trị vật chất, nhưng không quên dành thời gian quan tâm đến gia đình, bạn bè và cộng đồng. Cần biết sẻ chia, yêu thương, lắng nghe và đồng cảm để nuôi dưỡng đời sống tinh thần phong phú. Đồng thời, xã hội cũng cần đề cao lối sống nhân văn, khuyến khích con người hướng tới các giá trị đạo đức, văn hóa, nghệ thuật song song với phát triển kinh tế.
Tóm lại, cân bằng giữa giá trị vật chất và tinh thần chính là chìa khóa của hạnh phúc. Khi con người biết sống hài hòa, coi trọng cả hai mặt của cuộc sống, họ không chỉ có đủ đầy bên ngoài mà còn giàu có trong tâm hồn. Bài học từ bé Em trong “Áo Tết” nhắc nhở mỗi chúng ta: đôi khi một tấm lòng nhân hậu, một tình bạn chân thành còn quý giá hơn mọi món quà vật chất.
Câu 1
Nhân vật bé Em trong văn bản “Áo Tết” là một hình tượng giàu ý nghĩa nhân văn, thể hiện vẻ đẹp tâm hồn hồn nhiên, trong sáng và giàu tình cảm của tuổi thơ. Ban đầu, bé Em là cô bé rất mong muốn có chiếc áo đầm mới để mặc trong ngày Tết, bởi với Em, chiếc áo là biểu tượng của niềm vui và hạnh phúc. Tuy nhiên, khi thấy bạn mình – bé Hồng – buồn vì không có áo mới, Em đã dằn lòng, nhường chiếc áo quý giá cho bạn. Hành động ấy thể hiện sự thay đổi trong nhận thức: từ mong muốn cá nhân sang tình cảm sẻ chia, biết đặt niềm vui của người khác lên trên lợi ích của bản thân. Qua nhân vật bé Em, tác giả gửi gắm thông điệp sâu sắc về giá trị của tình bạn, về lòng nhân ái và sự trưởng thành trong tâm hồn trẻ thơ. Bé Em chính là tấm gương nhỏ bé nhưng sáng đẹp, nhắc nhở mỗi người biết sống yêu thương, nhân hậu và biết trân trọng những giá trị tinh thần hơn vật chất.
Câu 2
Trong cuộc sống hiện đại, con người không thể sống thiếu cả vật chất lẫn tinh thần. Vật chất giúp chúng ta tồn tại, còn tinh thần giúp chúng ta sống có ý nghĩa. Câu chuyện trong văn bản “Áo Tết”, khi bé Em nhận ra tình bạn chân thành quan trọng hơn chiếc áo đầm mới, là một minh chứng sâu sắc cho bài học về sự cân bằng giữa hai giá trị ấy.
Vật chất là nền tảng đảm bảo cuộc sống, giúp con người có điều kiện học tập, làm việc và tận hưởng hạnh phúc. Tuy nhiên, nếu chỉ chạy theo vật chất, con người dễ trở nên ích kỷ, lạnh lùng và đánh mất những giá trị nhân văn. Ngược lại, đời sống tinh thần mang lại cho con người niềm vui, sự sẻ chia, lòng yêu thương và ý nghĩa sống. Nhưng nếu chỉ sống bằng lý tưởng tinh thần mà không quan tâm đến vật chất, chúng ta khó có thể tồn tại và cống hiến cho xã hội. Vì thế, sự hài hòa giữa hai yếu tố này là điều cần thiết để tạo nên cuộc sống bền vững, hạnh phúc và nhân ái.
Để đạt được sự cân bằng ấy, mỗi người cần học cách sống giản dị, biết đủ và trân trọng những gì mình có. Chúng ta nên làm việc chăm chỉ để tạo ra giá trị vật chất, nhưng không quên dành thời gian quan tâm đến gia đình, bạn bè và cộng đồng. Cần biết sẻ chia, yêu thương, lắng nghe và đồng cảm để nuôi dưỡng đời sống tinh thần phong phú. Đồng thời, xã hội cũng cần đề cao lối sống nhân văn, khuyến khích con người hướng tới các giá trị đạo đức, văn hóa, nghệ thuật song song với phát triển kinh tế.
Tóm lại, cân bằng giữa giá trị vật chất và tinh thần chính là chìa khóa của hạnh phúc. Khi con người biết sống hài hòa, coi trọng cả hai mặt của cuộc sống, họ không chỉ có đủ đầy bên ngoài mà còn giàu có trong tâm hồn. Bài học từ bé Em trong “Áo Tết” nhắc nhở mỗi chúng ta: đôi khi một tấm lòng nhân hậu, một tình bạn chân thành còn quý giá hơn mọi món quà vật chất.
nFe = 8,996/56=0,1606 mol
nH2=0,1606mol
V=n*22,4=0,1606*22,4=3,598(l)
V=3,598(l)
1 Nồng độ ( giải thích tăng nồng độ . Tăng tốc độ phản ứng)
2 Nhiệt độ ( giải thích tăng nhiệt độ . Tốc độ phản ứng tăng)
3 Áp suất ( giải thích tăng áp suất . Tốc độ phản ứng tăng)
4 Diện tích bề mặt ( giải thích bề mặt lớn hơn . Tốc độ tăng)
5 Chất xúc tác ( giải thích giảm năng lượng hoạt hoá. Phản ứng nhanh hơn)