Trần Trọng Nghĩa

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Trần Trọng Nghĩa
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

bài 1

tóm tắt

  • Khối lượng vật: \(m = 1,5 \textrm{ } \text{kg}\)
  • Vận tốc đầu: \(v_{1} = 2 \textrm{ } \text{m}/\text{s}\)
  • Vận tốc cuối: \(v_{2} = 6 \textrm{ } \text{m}/\text{s}\)
  • Độ dài dốc: \(s = 8 \textrm{ } \text{m}\)
  • Góc nghiêng của dốc: \(\alpha = 30^{\circ}\)
  • Gia tốc trọng trường: \(g = 10 \textrm{ } \text{m}/\text{s}^{2}\)
  • a. Công của trọng lực

Trọng lực thực hiện công khi vật chuyển động xuống theo phương xiên, và công của trọng lực được tính theo công thức:

\(A_{\text{tr}ọ\text{ngl}ự\text{c}}=mgh\)

Với độ cao \(h = s \cdot sin ⁡ \left(\right. \alpha \left.\right)\), ta có:

\(h = 8 \cdot sin ⁡ \left(\right. 30^{\circ} \left.\right) = 8 \cdot 0,5 = 4 \textrm{ } \text{m}\) \(A_{\text{tr}ọ\text{ng}ự\text{c}}=1,5\cdot10\cdot4=60\textrm{ }\text{J}\)

b. Công của lực ma sát

Áp dụng định lý công – động năng:

\(A_{\text{t}ổ\text{ng}} = \Delta W = \frac{1}{2} m v_{2}^{2} - \frac{1}{2} m v_{1}^{2}\) \(= \frac{1}{2} \cdot 1,5 \cdot \left(\right. 6^{2} - 2^{2} \left.\right) = \frac{1}{2} \cdot 1,5 \cdot \left(\right. 36 - 4 \left.\right) = 0,75 \cdot 32 = 24 \textrm{ } \text{J}\)

Ta có:

\(A_{\text{t}ổ\text{ng}}=A_{\text{tr}ọ\text{ngl}ự\text{c}}+A_{\text{mas}\overset{ˊ}{\text{a}}\text{t}}\Rightarrow A_{\text{mas}\overset{ˊ}{\text{a}}\text{t}}=A_{\text{t}ổ\text{ng}}-A_{\text{tr}ọ\text{ng}ự\text{c}}=24-60=-36\textrm{ }\text{J}\)

Câu 1. Xác định kiểu văn bản của ngữ liệu trên.

Văn bản thuộc kiểu văn bản thuyết minh kết hợp yếu tố miêu tả.

Câu 2. Liệt kê một số hình ảnh, chi tiết cho thấy cách giao thương, mua bán thú vị trên chợ nổi.

  • Người buôn bán và mua hàng đều dùng xuồng, ghe, tắc ráng di chuyển trên sông.
  • Hàng hóa được trưng bày bằng cách treo lên “cây bẹo” – sào tre dựng đứng trên ghe.
  • Một số ghe sử dụng âm thanh rao hàng bằng kèn hoặc lời rao miệng như “Ai ăn chè đậu đen, nước dừa đường cát hôn…?”
  • Có ghe treo tấm lá lợp nhà như một biển hiệu bán ghe.

Câu 3. Nêu tác dụng của việc sử dụng tên các địa danh trong văn bản trên.

Việc sử dụng các địa danh cụ thể (như chợ nổi Cái Bè, Cái Răng, Ngã Bảy, v.v.) giúp:

  • Tăng tính chân thựcsinh động cho văn bản.
  • Giúp người đọc hình dung rõ ràng phạm vi phân bố và tính phổ biến của chợ nổi ở miền Tây.
  • Gợi niềm tự hào về bản sắc văn hóa vùng sông nước.

Câu 4. Nêu tác dụng của phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ trong văn bản trên.

Phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ như “cây bẹo”, tấm lá lợp nhà, hay tiếng kèn:

  • Giúp việc buôn bán trên sông trở nên thuận tiện, dễ nhận biết từ xa.
  • Tạo nên sự độc đáo, thú vịnét văn hóa riêng biệt cho chợ nổi.
  • Góp phần thu hút khách hàng bằng hình ảnh và âm thanh, thay thế cho biển hiệu hay loa gọi thường thấy trên đất liền.

Câu 5. Anh/Chị có suy nghĩ gì về vai trò của chợ nổi đối với đời sống của người dân miền Tây?

Chợ nổi không chỉ là nơi buôn bán, trao đổi hàng hóa mà còn là một phần linh hồn của văn hóa sông nước miền Tây. Đây là môi trường gắn kết cộng đồng, thể hiện sự thích nghi tài tình của con người với thiên nhiên. Chợ nổi còn là nơi lưu giữ những giá trị truyền thống, phản ánh đời sống sinh hoạt phong phú và đậm đà bản sắc của người dân miền Tây. Ngoài ra, nó cũng góp phần phát triển du lịch, quảng bá hình ảnh văn hóa Việt Nam đến với bạn bè quốc tế.

câu 1

Trong cuộc sống, mỗi người là một cá thể riêng biệt với những suy nghĩ, lối sống, niềm tin và giá trị khác nhau. Việc tôn trọng sự khác biệt của người khác là điều vô cùng cần thiết để xây dựng một xã hội văn minh và hài hòa. Khi biết tôn trọng sự khác biệt, chúng ta sẽ mở lòng đón nhận những quan điểm mới, học hỏi thêm nhiều điều bổ ích, đồng thời tạo dựng được mối quan hệ tốt đẹp với mọi người xung quanh. Tôn trọng sự khác biệt còn giúp hạn chế xung đột, định kiến và sự chia rẽ trong cộng đồng. Ngược lại, nếu không biết tôn trọng sự khác biệt, con người dễ rơi vào cái bẫy của sự bảo thủ, hẹp hòi và tự cô lập bản thân. Mỗi người đều có quyền sống đúng với bản thân mình, miễn là không gây hại cho người khác. Vì vậy, thay vì phán xét hay bài xích sự khác biệt, chúng ta nên học cách thấu hiểu và chấp nhận nó như một phần tất yếu của cuộc sống. Đó chính là nền tảng để xây dựng một xã hội đa dạng và tiến bộ.

câu 2

Bài thơ Nắng mới của Lưu Trọng Lư là một trong những thi phẩm tiêu biểu thể hiện nét đẹp tinh tế của thơ ca lãng mạn Việt Nam đầu thế kỷ XX. Qua những vần thơ dung dị mà sâu lắng, tác giả đã khắc họa nỗi nhớ da diết về người mẹ cùng với những hồi ức tuổi thơ êm đềm.

Ngay từ những câu thơ đầu tiên, bức tranh thiên nhiên hiện lên đầy nắng mới, sống động mà cũng gợi chút cô đơn:
“Mỗi lần nắng mới hắt bên song,
Xao xác, gà trưa gáy não nùng.”
Ánh nắng mới tưởng như mang theo sức sống, nhưng lại gợi lên nỗi buồn man mác, khiến lòng người chùng xuống, nhớ về quá khứ. Nắng, gà gáy – những âm thanh và hình ảnh rất đời thường – bỗng trở thành chất xúc tác khơi gợi nỗi nhớ.

Ký ức tuổi thơ hiện về rõ nét với hình ảnh người mẹ hiền:
“Tôi nhớ me tôi, thuở thiếu thời
Lúc người còn sống, tôi lên mười;
Mỗi lần nắng mới reo ngoài nội,
Áo đỏ người đưa trước giậu phơi.”
Chỉ bằng vài câu thơ, bóng dáng người mẹ lam lũ mà trìu mến đã hiện ra, thật gần gũi và thân thương. Hình ảnh “áo đỏ trước giậu phơi” không chỉ là chi tiết tả thực mà còn là biểu tượng cho tình mẹ, cho sự chăm sóc, chở che đầy ấm áp.

Bài thơ khép lại bằng những vần thơ giàu hình ảnh và cảm xúc:
“Hình dáng me tôi chửa xoá mờ
Hãy còn mường tượng lúc vào ra:
Nét cười đen nhánh sau tay áo
Trong ánh trưa hè trước giậu thưa.”
Dù thời gian trôi qua, bóng dáng người mẹ vẫn nguyên vẹn trong tâm trí tác giả. Cái “nét cười đen nhánh sau tay áo” là chi tiết rất đắt, gợi sự giản dị, mộc mạc mà lại vô cùng sâu sắc.

Nắng mới không chỉ là bài thơ về nỗi nhớ mẹ, mà còn là sự hoài niệm về tuổi thơ, quê hương – những giá trị tinh thần vĩnh cửu. Với ngôn ngữ giàu hình ảnh, giọng điệu tha thiết, bài thơ đã chạm đến trái tim người đọc, khơi gợi những cảm xúc trong trẻo, nhân hậu. Qua đó, ta càng thêm yêu quý tình mẫu tử thiêng liêng và trân trọng những ký ức êm đềm của cuộc đời.

Câu 1.

→Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận.

câu 2

→ Hai cặp từ/cặp cụm từ đối lập là:

  • Tằn tiện ↔ phung phí.
  • Ở nhà ↔ ưa bay nhảy.

câu 3

→ Vì mỗi người có hoàn cảnh, tính cách và cách sống khác nhau. Những đánh giá thường mang tính chủ quan và thiên lệch, dễ dẫn đến sự hiểu lầm và bất công. Do đó, việc phán xét người khác một cách dễ dàng là thiếu công bằng và không nên.

câu 4

→ Ý kiến này nhấn mạnh rằng việc sống theo định kiến của người khác khiến chúng ta đánh mất bản thân, tự do và sự lựa chọn cá nhân. Khi để định kiến chi phối, ta không còn là chính mình mà trở thành "nạn nhân" của sự áp đặt và kỳ vọng từ bên ngoài, khiến cuộc sống trở nên gò bó, thiếu ý nghĩa.

câu 5

→ Thông điệp: Mỗi người cần biết lắng nghe chính mình, tôn trọng sự khác biệt và không nên vội vàng phán xét người khác. Quan trọng hơn, hãy sống đúng với bản thân, không để định kiến xã hội chi phối cuộc sống và lựa chọn của mình.

câu 1

Bê-li-cốp trong truyện ngắn Người trong bao của Sê-khốp là một hình tượng độc đáo, phản ánh lối sống tù túng, bảo thủ đến mức cực đoan. Ông ta tự bao bọc mình trong một lớp vỏ an toàn: từ đôi giày cao su, chiếc ô, áo bành tô cho đến cách suy nghĩ và hành xử đều cứng nhắc, khép kín. Đáng sợ hơn, Bê-li-cốp còn mang tâm lý áp đặt, gieo rắc sự sợ hãi lên mọi người xung quanh. Nhân vật này không đơn thuần là một cá nhân dị biệt mà còn là biểu tượng cho một lớp người đại diện cho tư tưởng phản tiến bộ trong xã hội Nga đương thời. Qua Bê-li-cốp, tác giả muốn lên án sự phi nhân tính của lối sống giáo điều, đồng thời bày tỏ nỗi xót xa cho những con người bị bóp nghẹt giữa một xã hội ngột ngạt, tù túng. Nhân vật không chỉ là bi kịch cá nhân mà còn là hồi chuông cảnh tỉnh về sự tha hóa nếu con người chỉ sống co mình trong nỗi sợ hãi và sự ràng buộc vô nghĩa.

câu 2

Cuộc sống là một chu trình không ngừng thay đổi, và nếu chúng ta cứ mãi sống trong những giới hạn tự đặt ra, chúng ta sẽ không thể phát triển và tiến bộ. Do đó, giới trẻ cần mạnh dạn “ra khỏi vùng an toàn”. Vùng an toàn là khu vực mà mỗi người tự tạo ra, nơi họ sống trong sự thoải mái và yên bình mà không có bất kỳ sự thay đổi hay đột phá nào. Đây là môi trường quen thuộc, không có áp lực hay mạo hiểm, nơi mà mọi thứ đều nằm trong tầm kiểm soát.

Một nghiên cứu cho thấy rằng phần lớn những người sống mãi trong vùng an toàn của chính mình và không dám bước ra là thế hệ trẻ. Đây là một vấn đề đáng lo ngại. Tuổi trẻ là khoảng thời gian tươi đẹp nhất, chúng ta có năng lượng, thời gian và khả năng học hỏi những điều mới. Vậy tại sao lại chôn vùi khả năng đó trong một lớp vỏ bọc vô hình của bản thân?

Con đường đời của mỗi người chưa bao giờ là bằng phẳng, vì vậy chúng ta cần chấp nhận thực tế và mở rộng vùng an toàn của mình. Khi thoát ra khỏi vùng an toàn, chúng ta sẽ tích lũy được nguồn kiến thức phong phú, những bài học kinh nghiệm đầy giá trị làm nền tảng cho sự bứt phá trong những lĩnh vực mới, những hướng đi mới. Bước ra khỏi ranh giới của bản thân nghĩa là ta đã hoàn toàn sống độc lập, có khả năng xử lý và giải quyết những tình huống khó khăn, những sóng gió bất ngờ ập đến trên con đường đến đỉnh vinh quang.

Khi phá vỡ bức tường an toàn, chắc chắn sẽ có những lúc chúng ta cảm thấy yếu lòng, mệt mỏi hay choáng ngợp vì những thay đổi lớn, nhưng đó sẽ là cơ sở để chúng ta rèn luyện tính nhẫn nại, kiên trì bền bỉ, không vì chút khó khăn mà nản lòng hay từ bỏ giữa chừng.

Câu chuyện của nữ doanh nhân Hồ Ngọc Trâm là một minh chứng tiêu biểu. Chị đã dám từ bỏ vị trí quản lý nhân sự cấp cao của một công ty nước ngoài để bắt đầu công việc yêu thích của mình là xây dựng nông trại cung cấp nông sản sạch, một công việc hoàn toàn xa lạ với chuyên ngành của chị. Quá trình ấy không hề dễ dàng nhưng chị đã rất thành công, minh chứng cho việc dám thoát ra khỏi vùng an toàn và thực hiện những điều mới mẻ.

Trái với những tấm gương tiêu biểu ấy, ta vẫn thường bắt gặp nhiều thanh niên trẻ vì ngại bị từ chối mà không dám nộp hồ sơ vào các công ty lớn hay sống một cuộc sống lặp đi lặp lại theo quy củ, không có gì đột phá, không có gì thay đổi. Đó là những người suốt cuộc đời chỉ có thể dậm chân tại chỗ, chấp nhận cuộc sống tẻ nhạt và thậm chí là không thể thành công.

Cuộc sống muôn hình vạn trạng, không ai biết trước được điều gì sẽ xảy ra. Vì vậy, tuổi trẻ chúng ta hãy tập cho mình lối sống hòa nhập với những điều mới, hãy bước khỏi vùng an toàn của bản thân để trở thành những người bản lĩnh, kiên cường, tràn đầy kinh nghiệm và lòng nhiệt huyết. Chỉ khi dám đối mặt và vượt qua những thử thách, chúng ta mới có thể phát triển toàn diện và đạt được những thành công đáng kể trong cuộc sống.

câu 1

Bê-li-cốp trong truyện ngắn Người trong bao của Sê-khốp là một hình tượng độc đáo, phản ánh lối sống tù túng, bảo thủ đến mức cực đoan. Ông ta tự bao bọc mình trong một lớp vỏ an toàn: từ đôi giày cao su, chiếc ô, áo bành tô cho đến cách suy nghĩ và hành xử đều cứng nhắc, khép kín. Đáng sợ hơn, Bê-li-cốp còn mang tâm lý áp đặt, gieo rắc sự sợ hãi lên mọi người xung quanh. Nhân vật này không đơn thuần là một cá nhân dị biệt mà còn là biểu tượng cho một lớp người đại diện cho tư tưởng phản tiến bộ trong xã hội Nga đương thời. Qua Bê-li-cốp, tác giả muốn lên án sự phi nhân tính của lối sống giáo điều, đồng thời bày tỏ nỗi xót xa cho những con người bị bóp nghẹt giữa một xã hội ngột ngạt, tù túng. Nhân vật không chỉ là bi kịch cá nhân mà còn là hồi chuông cảnh tỉnh về sự tha hóa nếu con người chỉ sống co mình trong nỗi sợ hãi và sự ràng buộc vô nghĩa.

câu 2

Cuộc sống là một chu trình không ngừng thay đổi, và nếu chúng ta cứ mãi sống trong những giới hạn tự đặt ra, chúng ta sẽ không thể phát triển và tiến bộ. Do đó, giới trẻ cần mạnh dạn “ra khỏi vùng an toàn”. Vùng an toàn là khu vực mà mỗi người tự tạo ra, nơi họ sống trong sự thoải mái và yên bình mà không có bất kỳ sự thay đổi hay đột phá nào. Đây là môi trường quen thuộc, không có áp lực hay mạo hiểm, nơi mà mọi thứ đều nằm trong tầm kiểm soát.

Một nghiên cứu cho thấy rằng phần lớn những người sống mãi trong vùng an toàn của chính mình và không dám bước ra là thế hệ trẻ. Đây là một vấn đề đáng lo ngại. Tuổi trẻ là khoảng thời gian tươi đẹp nhất, chúng ta có năng lượng, thời gian và khả năng học hỏi những điều mới. Vậy tại sao lại chôn vùi khả năng đó trong một lớp vỏ bọc vô hình của bản thân?

Con đường đời của mỗi người chưa bao giờ là bằng phẳng, vì vậy chúng ta cần chấp nhận thực tế và mở rộng vùng an toàn của mình. Khi thoát ra khỏi vùng an toàn, chúng ta sẽ tích lũy được nguồn kiến thức phong phú, những bài học kinh nghiệm đầy giá trị làm nền tảng cho sự bứt phá trong những lĩnh vực mới, những hướng đi mới. Bước ra khỏi ranh giới của bản thân nghĩa là ta đã hoàn toàn sống độc lập, có khả năng xử lý và giải quyết những tình huống khó khăn, những sóng gió bất ngờ ập đến trên con đường đến đỉnh vinh quang.

Khi phá vỡ bức tường an toàn, chắc chắn sẽ có những lúc chúng ta cảm thấy yếu lòng, mệt mỏi hay choáng ngợp vì những thay đổi lớn, nhưng đó sẽ là cơ sở để chúng ta rèn luyện tính nhẫn nại, kiên trì bền bỉ, không vì chút khó khăn mà nản lòng hay từ bỏ giữa chừng.

Câu chuyện của nữ doanh nhân Hồ Ngọc Trâm là một minh chứng tiêu biểu. Chị đã dám từ bỏ vị trí quản lý nhân sự cấp cao của một công ty nước ngoài để bắt đầu công việc yêu thích của mình là xây dựng nông trại cung cấp nông sản sạch, một công việc hoàn toàn xa lạ với chuyên ngành của chị. Quá trình ấy không hề dễ dàng nhưng chị đã rất thành công, minh chứng cho việc dám thoát ra khỏi vùng an toàn và thực hiện những điều mới mẻ.

Trái với những tấm gương tiêu biểu ấy, ta vẫn thường bắt gặp nhiều thanh niên trẻ vì ngại bị từ chối mà không dám nộp hồ sơ vào các công ty lớn hay sống một cuộc sống lặp đi lặp lại theo quy củ, không có gì đột phá, không có gì thay đổi. Đó là những người suốt cuộc đời chỉ có thể dậm chân tại chỗ, chấp nhận cuộc sống tẻ nhạt và thậm chí là không thể thành công.

Cuộc sống muôn hình vạn trạng, không ai biết trước được điều gì sẽ xảy ra. Vì vậy, tuổi trẻ chúng ta hãy tập cho mình lối sống hòa nhập với những điều mới, hãy bước khỏi vùng an toàn của bản thân để trở thành những người bản lĩnh, kiên cường, tràn đầy kinh nghiệm và lòng nhiệt huyết. Chỉ khi dám đối mặt và vượt qua những thử thách, chúng ta mới có thể phát triển toàn diện và đạt được những thành công đáng kể trong cuộc sống.

câu 1

Trong truyện ngắn Con chim vàng, Nguyễn Quang Sáng không chỉ kể về một đứa trẻ đi bắt chim, mà ông đã mượn hình ảnh con chim vàng để khắc họa sự đối lập đầy chua xót giữa những số phận người. Con chim vàng – với bộ lông óng ánh, mỏ đỏ như son – tượng trưng cho cái đẹp, sự tự do và niềm vui mà tầng lớp thống trị mưu cầu. Thế nhưng để có được nó, họ sẵn sàng dùng bạo lực, đòn roi để ép một đứa trẻ nghèo khổ như Bào bắt cho bằng được. Khi chim chết, người ta tiếc nuối, đau xót, trong khi đứa trẻ rơi từ trên cây xuống, mặt bê bết máu, lại không ai quan tâm. Hình ảnh đó không chỉ gây xúc động mạnh mà còn tố cáo sâu sắc sự bất công, phi nhân tính của xã hội. Thông qua hình tượng con chim vàng, tác giả đã gửi gắm nỗi đau về thân phận con người và khát vọng công bằng trong xã hội.

câu 2

Cuộc sống có vô vàn những điều mới lạ, và trong đó có những thứ khiến con người cảm thấy vô cùng quý giá, trân trọng, không có bất kỳ thứ gì có thể đóng đếm hay mua được bằng tiền. Đó chính là tình yêu thương. Tình yêu thương giúp con người trở nên hạnh phúc, vui vẻ, một con người biết yêu thương chính là người có nhân cách đẹp, và luôn hướng đến những thứ tốt đẹp, hoàn mỹ hơn.

Tình yêu thương là gì? Đó chính là sự sẽ chia mà mỗi người dành cho nhau, một thứ tình cảm thiêng liêng xuất phát từ nơi con tim. Đó chính là sự đồng cảm, và một tinh thần đồng loại mà con người dành cho con người. Tình yêu thương có vô vàn hình trạng, nó như một viên đá ngũ sắc lung linh. Tuy nó vô hình nhưng lại hữu hình, luôn xuất hiện vào cuộc sống hằng ngày. Chúng ta có thể dễ dàng nhận ra hay không thể nhận ra bởi tình yêu thương nó vô cùng đơn giản, và gần gũi. Bố mẹ bạn yêu bạn, anh chị người thân bạn chăm sóc cho bạn, bạn bè bạn lo lắng cho bạn… Tình yêu thương chính là tình thân, tình nghĩa. Mỗi chúng ta đều sinh ra may mắn được sống trong tình yêu của cha của mẹ, chúng ta được gắn kết bởi tình yêu nồng nàn từ cha mẹ, từ người mang chung dòng máu với ta. Và khi chập chững vào lớp học, chúng ta biết đến tình yêu thương mới đó chính là tình bạn. Những người bạn là người xa lạ, được gắn kết với chúng ta bởi sự sẽ chia, bởi niềm vui và nổi buồn, bởi các cuộc trò chuyện, bởi sự giúp đỡ. Và cứ thế, trên đường đời sẽ xuất hiện rất nhiều tình yêu thương. Trong đó có một loại tình cảm, được gọi là tình yêu, đó là sự đồng điệu của hai tâm hồn, một chủ đề mà các nhà thơ như Xuân Diệu, Huy Cận, Xuân Quỳnh, Puskin,… họ viết lên những câu thơ, những bài tình ca ngọt ngào để ca ngời tình yêu, mang đến một sự thăng hoa bất tận. Và còn có một tình yêu đất nước, dân tộc, chúng ta sống trên cùng một tổ quốc, cùng một mảnh đất, chung tiếng nói và màu da vì thế, chúng ta dành tình cảm đồng thân đó cho nhau.

Tình yêu thương giống như một chiếc túi khổng lồ mà nhân loại không định nghĩa được. nó trìu tượng đến mức khó hiểu. Nhìn đứa trẻ mồ côi nằm ở hàng ghế đá, nhìn cụ già đang mon men đi xin ăn, nhìn người dân miền trung đang chịu những cơn bão, người thì bị chết, gia đình li tán, của cải mất mát…..chúng ta cảm thấy sao xót xa, sao đau lòng quá. Tình yêu thương chính là sự lo lắng cho người với người, dù chưa từng gặp mặt, dù chị là sự lướt quá, nhưng trái tim con người là thế, tình yêu thương là vô tận. Và rồi, vì yêu vì thương chúng ta sẵn sàng giúp đỡ, bỏ tâm huyết chăm lo xây dựng các nhà tình thương tình nghĩa, để bao bọc các em nhỏ mồ côi, để cho các cụ già neo đơn có một mái nhà, để những người tàn tật, những trẻ em bị mặc bệnh hiểm nghèo có thể được chữa trị,… Dù là âm thầm giúp đỡ, hay công khai giúp đỡ, họ đều không cần mọi người biết đến, không cần mọi người tuyên dương, ghi danh. Chỉ cần nơi nào có tình yêu thương, nơi đấy thật ấm áp, và hạnh phúc.

Nhưng có biết bao người lại quên mất đi tình yêu thương, họ bị sự ồn ào của cuộc sống, bị lu mờ bởi vật chất nên để tình yêu thương nguội lạnh. Vì cái tôi, vì cuộc sống đơn điệu của bản thân mà họ bỏ mặc những thứ xung quanh. Có nhiều người đã mắc căn bệnh “Vô Cảm”, bị dửng dưng trước những hoàn cảnh đáng thương, sợ giúp đỡ người khác, sợ bị mang vạ vào thân… Vì vậy, họ không biết nói tiếng sẻ chia, cứ khư khư trong vỏ bọc của riêng mình. Và từ đó, luôn sống trong ngờ vực, đố kị, ganh ghét,… Chúng ta nên phê phán, nên chỉ cho họ thấy sống là cần biết cho đi, chứ không chỉ là sự nhận lại, để họ có thể được hòa nhập vào thế giới tràn ngập yêu thương.

Thật tuyệt vời vì trên thế giới con người luôn xuất hiện tình yêu thương. Mỗi chúng ta hãy nuôi dưỡng trong trái tim mình những viên đá ngũ sắc yêu thương để tô vẻ cho đời màu sắc của hòa bình, của hạnh phúc. Tình yêu thương chính là một phẩm chất đạo đức nhân cách cao quý mà ai ai cũng nên có và phát huy.

câu 1

Phương thức biểu đạt chính: Tự sự.

câu 2

Tình huống truyện:
Bào – một đứa trẻ làm thuê – phải tìm cách bắt con chim vàng cho con chủ là thằng Quyên theo lệnh của bà chủ, trong khi bản thân vừa sợ hãi đòn roi vừa bị dồn ép đến mức nguy hiểm tính mạng.
(Tình huống này đẩy cao mâu thuẫn và thể hiện sự đối lập giữa các tầng lớp, đồng thời làm nổi bật số phận bất hạnh của nhân vật Bào.)

câu 3

Ngôi kể: Ngôi thứ ba.

tác dụng :

  • Tạo ra cái nhìn khách quan, bao quát.
  • Cho phép người đọc thấy rõ suy nghĩ, cảm xúc, hành động của các nhân vật, đặc biệt là Bào – từ đó tăng tính thương cảm.

câu 4

Mắt Bào chập chờn thấy bàn tay mẹ thằng Quyên thò xuống. Tay Bào với tới, với mãi, với mãi nhưng cũng chẳng với được ai.

  • Chi tiết đầy tính biểu tượng: Bào như cố vươn tới một tia hi vọng, một sự cứu rỗi giữa cơn đau đớn và tuyệt vọng.
  • Hành động “với mãi” thể hiện khát khao được yêu thương, được cứu giúp, nhưng “chẳng với được ai” lại cho thấy sự cô đơn, tủi cực và bị bỏ rơi.
  • Ngược lại, bàn tay kia không cứu Bào mà chỉ lo “nâng lấy xác con chim vàng” – cho thấy sự thờ ơ, vô cảm, coi trọng vật chất hơn con người.

=> Đây là chi tiết đắt giá, tô đậm bi kịch của Bào và tố cáo sự tàn nhẫn của tầng lớp thống trị.

câu 5

về nhân vật bào:

  • Là một đứa trẻ ngoan ngoãn, chịu thương chịu khó, chịu nhiều đòn roi mà vẫn cố gắng làm vừa lòng cậu chủ.
  • Có lúc phản kháng, nhưng rồi lại bị dồn ép đến mức chấp nhận nguy hiểm để thực hiện nhiệm vụ.
  • Bào vừa sợ hãi, vừa đáng thương, là biểu tượng cho thân phận bị áp bức trong xã hội cũ.

tình cảm và thái độ của tác giả :

  • Thể hiện sự xót xa, đồng cảm với những thân phận nhỏ bé, bất hạnh như Bào.
  • Lên án sự tàn nhẫn, bất công của chế độ phong kiến, nơi con người bị coi rẻ hơn cả một con chim.