Bùi Anh Thư
Giới thiệu về bản thân
1. Gọi \(m\) là khối lượng vật, \(v\) là vận tốc tại độ cao 3 m
- Thế năng tại độ cao 3 m:
\(P = m g h = m \cdot 10 \cdot 3 = 30 m\) - Động năng:
\(K = \frac{1}{2} m v^{2}\) - Theo đề:
\(K = 1,5 \cdot P = 1,5 \cdot 30 m = 45 m\)
→ Ta có:
\(\frac{1}{2} m v^{2} = 45 m\)
→ Rút gọn \(m\) hai vế (giả sử \(m \neq 0\)):
\(\frac{1}{2} v^{2} = 45 \Rightarrow v^{2} = 90 \Rightarrow v = \sqrt{90} \approx 9,49 \textrm{ } \text{m}/\text{s}\)
2. Tổng cơ năng:
Cơ năng \(W = K + P = 45 m + 30 m = 75 m\)
Mà \(W = 37,5 \textrm{ } \text{J}\)
→ \(75 m = 37,5 \Rightarrow m = \frac{37,5}{75} = 0,5 \textrm{ } \text{kg}\)
Kết luận:
- Khối lượng vật: \(\boxed{0,5 \textrm{ } \text{kg}}\)
- Vận tốc tại độ cao 3 m: \(\boxed{9,49 \textrm{ } \text{m}/\text{s}}\)
Trường hợp a: Bỏ qua ma sát
1. Lực kéo của động cơ:
Theo định luật II Newton:
\(F = m a = 2000 \times 0,4 = 800 \textrm{ } \text{N}\)
2. Công của động cơ:
Công là:
\(A = F \cdot s\),
trong đó \(s = \frac{1}{2} a t^{2} = \frac{1}{2} \cdot 0,4 \cdot \left(\right. 15 \left.\right)^{2} = 45 \textrm{ } \text{m}\)
→ \(A = 800 \cdot 45 = 36 \textrm{ } 000 \textrm{ } \text{J}\)
3. Công suất trung bình:
\(P = \frac{A}{t} = \frac{36 \textrm{ } 000}{15} = 2400 \textrm{ } \text{W} = 2,4 \textrm{ } \text{kW}\)
\(\)
1. Lực ma sát:
\(F_{\text{ms}} = \mu m g = 0,05 \cdot 2000 \cdot 10 = 1000 \textrm{ } \text{N}\)
2. Tổng lực kéo của động cơ:
Xe cần thắng cả ma sát và tạo gia tốc, nên:
\(F = F_{\text{ma}\&\text{nbsp};\text{s} \overset{ˊ}{\text{a}} \text{t}} + F_{\text{gia}\&\text{nbsp};\text{t} \overset{ˊ}{\hat{\text{o}}} \text{c}} = 1000 + 800 = 1800 \textrm{ } \text{N}\)
3. Công của động cơ:
\(A = F \cdot s = 1800 \cdot 45 = 81 \textrm{ } 000 \textrm{ } \text{J}\)
4. Công suất trung bình:
\(P = \frac{81 \textrm{ } 000}{15} = 5400 \textrm{ } \text{W} = 5,4 \textrm{ } \text{kW}\)
Truyện ngắn Con chim vàng của Nguyễn Quang Sáng là một tác phẩm giàu giá trị nhân văn, phản ánh số phận bất hạnh của những đứa trẻ nghèo trong xã hội bất công. Nhân vật Bào – cậu bé ở đợ – hiện lên đầy thương cảm: hiền lành, nhẫn nhục, cam chịu đòn roi để làm hài lòng cậu chủ. Em phải trèo cây bắt chim dù sợ hãi, nguy hiểm tính mạng. Hình ảnh em ngã xuống, máu chảy, tay với mãi trong vô vọng nhưng không ai đỡ lại cho thấy sự tuyệt vọng đến tận cùng của một đứa trẻ khao khát được quan tâm, yêu thương. Trong khi đó, sự vô cảm của mẹ con thằng Quyên – chỉ xót xa cho con chim chết thay vì đứa bé rơi xuống đẫm máu – tố cáo sự tàn nhẫn của xã hội cũ đối với người nghèo, đặc biệt là trẻ em. Qua đó, tác giả không chỉ bày tỏ niềm xót thương sâu sắc đối với những số phận nhỏ bé, mà còn lên án mạnh mẽ sự bất công, vô nhân đạo của tầng lớp thống trị. Truyện ngắn để lại dư âm day dứt, nhắc nhở người đọc về giá trị của lòng nhân ái và sự công bằng.
Câu 1
Phương thức biểu đạt chính: Tự sự.
Câu 2
Tình huống truyện: Bào – một cậu bé ở đợ – phải tìm mọi cách để bắt con chim vàng cho cậu chủ Quyên theo lệnh bà chủ, dẫn đến việc bị đánh đập, ép buộc trèo cây, và cuối cùng bị ngã nặng, trong khi con chim cũng chết thảm.
Câu 3
Ngôi kể: Ngôi thứ ba.
Tác dụng: Ngôi kể thứ ba giúp người kể có cái nhìn bao quát, khách quan; dễ dàng miêu tả cảm xúc, hành động của nhiều nhân vật khác nhau, từ đó khắc họa rõ sự đối lập giữa cậu bé Bào đáng thương và mẹ con thằng Quyên vô cảm, độc ác.
Câu 4
Chi tiết “Mắt Bào chập chờn thấy bàn tay mẹ thằng Quyên thò xuống. Tay Bào với tới, với mãi, với mãi nhưng cũng chẳng với được ai.” thể hiện bi kịch và nỗi tuyệt vọng cùng cực của Bào. Trong khoảnh khắc tưởng chừng được cứu giúp, Bào vẫn không thể chạm tới sự quan tâm, thương yêu từ con người – mà thay vào đó, bà chủ chỉ lo cho xác con chim. Chi tiết này khắc họa sự tàn nhẫn, vô tâm của người lớn và nỗi cô đơn, bất lực tột cùng của một đứa trẻ bị chà đạp.
Câu 5
Nhận xét về nhân vật Bào:
Bào là một cậu bé ngoan, hiền lành, chịu thương chịu khó, cam chịu bất công nhưng vẫn đầy khát khao được yêu thương và công nhận. Cậu chịu đòn roi, vượt qua nỗi sợ để làm hài lòng cậu chủ – điều đó cho thấy sự đáng thương và cuộc đời đầy cơ cực của em.
Thông điệp, tình cảm của tác giả: Tác giả thể hiện sự xót thương, cảm thông sâu sắc với thân phận trẻ em nghèo bị bóc lột và lên án sự tàn nhẫn, vô cảm của xã hội phong kiến đối với những con người nhỏ bé, yếu ớt.
Câu 1.
Phương thức biểu đạt chính là nghị luận kết hợp với biểu cảm.
Câu 2.
Câu hỏi lớn nhất được nêu là: “Khước từ sự vận động. Tìm quên trong những giấc ngủ vui. Tìm sự an toàn trong vẻ ngoan ngoãn bất động khiến người thân phải đau lòng. Bỏ quên những khát khao dài rộng. Bãi hoải trong tháng ngày chật hẹp?”
Câu 3.
Biện pháp tu từ được sử dụng là so sánh và ẩn dụ.
• So sánh cuộc sống như dòng sông, tuổi trẻ như dòng nước hướng ra biển rộng giúp liên hệ đời người với quy luật tự nhiên, nhấn mạnh ý nghĩa của sự vận động, phát triển.
• Tác dụng: Gợi hình ảnh sống động, khuyến khích con người, đặc biệt là giới trẻ, phải sống tích cực, không ngừng vươn lên, dám nghĩ, dám làm, không ngừng nỗ lực để khám phá và hoàn thiện bản thân.
Câu 4.
“Tiếng gọi chảy đi sông ơi” là ẩn dụ cho khát vọng sống, khát vọng vươn lên, phát triển và khám phá chính mình. Đó là lời thúc giục nội tâm, thôi thúc con người không được dừng lại mà phải tiến bước không ngừng trên hành trình sống.
Câu 5.
Bài học rút ra: Con người cần phải không ngừng vận động, vươn lên trong cuộc sống, không nên sống an phận, dậm chân tại chỗ.
Vì: Cuộc sống là một hành trình không ngừng thay đổi và phát triển. Chỉ khi ta chủ động tiến lên phía trước, vượt qua khó khăn, thử thách thì mới có thể trưởng thành, đạt được ước mơ và sống một cuộc đời ý nghĩa.