Nguyễn Phương Thủy
Giới thiệu về bản thân
Câu 1
Bài thơ "Đề đền Sầm Nghi Đống" của Hồ Xuân Hương không chỉ là lời đề vịnh thông thường mà còn là tiếng lòng yêu nước sâu sắc, thể hiện niềm tự hào dân tộc, ngưỡng mộ tài năng và công lao của vị tướng Sầm Nghi Đống, người đã anh dũng chống giặc ngoại xâm, bảo vệ bờ cõi. Bằng ngôn ngữ mộc mạc nhưng đầy sức mạnh, tác giả ca ngợi tinh thần quật cường, ý chí kiên cường bảo vệ non sông, đồng thời ngầm phê phán sự hèn nhát, nhu nhược của triều đình phong kiến, để lại một lời nhắc nhở về trách nhiệm giữ gìn giang sơn, độc lập dân tộc. Bài thơ khơi gợi lòng yêu nước, ý thức trách nhiệm công dân, thôi thúc thế hệ sau phát huy tinh thần cha ông, chung sức xây dựng và bảo vệ đất nước.
Câu 2
Thế hệ trẻ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Với sức trẻ, sự năng động và sáng tạo, thế hệ trẻ có thể cống hiến nhiều điều mới mẻ cho sự phát triển của xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội, thế hệ trẻ cũng phải đối diện với những thử thách không nhỏ và gánh vác trách nhiệm lớn lao trong việc góp phần duy trì, bảo vệ và phát triển đất nước.
Trước hết, thế hệ trẻ phải là những người tiên phong trong việc học tập và nghiên cứu khoa học công nghệ. Trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0, nền kinh tế và xã hội đang thay đổi nhanh chóng. Việc tiếp cận và ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ không chỉ giúp nâng cao năng suất lao động mà còn góp phần phát triển các lĩnh vực then chốt như giáo dục, y tế, môi trường. Do đó, thế hệ trẻ cần trang bị cho mình kiến thức vững vàng và kỹ năng cần thiết để đáp ứng yêu cầu của xã hội hiện đại.
Bên cạnh đó, thế hệ trẻ còn phải có trách nhiệm giữ gìn và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Trong quá trình hội nhập và phát triển, nhiều giá trị văn hóa của dân tộc có thể bị mai một. Thế hệ trẻ cần phải tự hào về truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau của cha ông, từ đó lan tỏa những giá trị này trong cuộc sống hàng ngày. Đồng thời, họ cũng phải có trách nhiệm trong việc đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia, giữ gìn hòa bình và ổn định trong khu vực và thế giới.
Ngoài ra, thế hệ trẻ cũng phải có thái độ tích cực trong công cuộc bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Trong bối cảnh ô nhiễm và biến đổi khí hậu ngày càng nghiêm trọng, việc bảo vệ môi trường không chỉ là nhiệm vụ của một cá nhân hay một nhóm người mà là của toàn thể xã hội. Thế hệ trẻ cần phải có ý thức trách nhiệm trong việc bảo vệ thiên nhiên, sử dụng tài nguyên một cách hợp lý và bảo vệ động thực vật để đảm bảo sự phát triển bền vững cho đất nước trong tương lai.
Tóm lại, thế hệ trẻ ngày nay không chỉ cần có kiến thức và kỹ năng để đóng góp vào sự nghiệp phát triển đất nước mà còn phải có lòng yêu nước sâu sắc, trách nhiệm với cộng đồng và một tầm nhìn chiến lược để góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chỉ khi nhận thức rõ vai trò và trách nhiệm của mình, thế hệ trẻ mới có thể tạo ra những thay đổi tích cực, góp phần vào sự phát triển vững mạnh của đất nước trong tương lai.
Câu 1
- Bài thơ thuộc thể thơ: Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật.
Câu 2
– Từ tượng hình được sử dụng trong bài thơ: "cheo leo".
– Trợ từ: "kìa".
Câu 3
– Những chi tiết miêu tả hành động, thái độ của nữ sĩ Xuân Hương khi đi qua đền Sầm Nghi Đống trong hai câu thơ đầu là "ghé mắt trông ngang", "kìa".
– Nhận xét:
+ Ta cảm nhận được đó là cái nhìn ngang, nhìn bằng nửa con mắt, khinh rẻ, coi thường của nhà thơ với kẻ xâm lược bại trận. Đây là cái nhìn châm biếm sâu cay, đầy chế giễu. Từ "kìa" cho thấy sự coi thường, mỉa mai của nữ sĩ.
+ Từ đó, tác giả còn thể hiện niềm tự hào dân tộc vì đã đánh bại kẻ thù xâm lược.
Câu 4
– Trong hai câu thơ đã cho, tác giả đã sử dụng biện pháp nhân hoá "đền Thái Thú đứng cheo leo".
– Tác dụng:
+ Nhân hoá khiến cho hình ảnh đền Thái Thú hiện lên sinh động, có sự sống, mang đặc điểm của con người.
+ Gợi hình ảnh ngôi đền ở thế chông chênh, không vững chãi, không còn mang sự thiêng liêng vốn có của một ngôi đền.
+ Thông qua hình ảnh đó, tác giả đã thể hiện thái độ coi thường, khinh bỉ đối với kẻ thù bại trận Sầm Nghi Đống bởi dân tộc ta.
+ Từ đó, câu thơ càng tô đậm sắc thái, giọng điệu trào phúng sâu cay.
Câu 5
-Thông điệp tác giả gửi gắm qua bài thơ là:
+ Tác giả thể hiện sự mỉa mai, khinh bỉ sâu cay với thất bại nhục nhã của kẻ thù xâm lược; vạch trần vẻ uy nghiêm giả tạo của đền thờ để khẳng định niềm tự hào dân tộc.
+ Tác phẩm là lời thách thức táo bạo đối với quan niệm "trọng nam khinh nữ" của xã hội phong kiến, qua đó khẳng định tài năng, chí khí và khát vọng làm nên sự nghiệp phi thường của người phụ nữ Việt Nam.
➞ Bài thơ gửi gắm tinh thần dân tộc mạnh mẽ, khát vọng bình đẳng giới và ý chí giải phóng cá tính của người phụ nữ.
Mỗi con người sinh ra đều mang một sứ mệnh riêng. Chúng ta được lựa chọn mục tiêu, lựa chọn lí tưởng sống, lựa chọn cách rèn luyện trí tuệ, nhân phẩm cho bản thân mình. Nhưng hơn tất cả, chúng ta cần phải rèn luyện cho mình một tinh thần trách nhiệm và nhận thức đúng đắn, tránh xa thói vô trách nhiệm.
Trước hết, chúng ta cần hiểu thế nào là tinh thần trách nhiệm và thói vô trách nhiệm. Tinh thần trách nhiệm chính là ý thức, hành vi luôn làm tốt và trọn vẹn công việc, nhiệm vụ được giao, có lý tưởng, mục đích sống, cố gắng vươn lên trong cuộc sống. Còn thói vô trách nhiệm trái ngược trách nhiệm, đó là việc không có ý thức hoàn thành đúng công việc được giao cũng như vươn lên trên mà buông bỏ, phó mặc cho hoàn cảnh, chỉ chạy theo sở thích cá nhân của mình.
Dấu hiệu để nhận biết người có tinh thần trách nhiệm và người vô trách nhiệm cũng hoàn toàn khác nhau. Người có trách nhiệm là người luôn hoàn thành đúng hạn và làm tốt công việc được giao; không phải để người khác đốc thúc, nhắc nhở mình; biết nhìn vào thực tế, biết chấp nhận những lỗi lầm của bản thân và có ý thức sửa chữa, khắc phục những lỗi lầm đó. Ngược lại, người vô trách nhiệm thường không quan tâm, mặc kệ những công việc mà bản thân mình được giao, không hoàn thành đúng hạn công việc hoặc chất lượng công việc không được tốt; không dám nhìn nhận thực tế vào những lỗi lầm của mình.
Sống với tinh thần trách nhiệm giúp con người ta trưởng thành hơn, biết sắp xếp công việc hợp lí, biết vươn lên trong cuộc sống; được người khác tín nhiệm, tin tưởng từ đó con đường đi đến thành công trở nên dễ dàng hơn. Còn thói vô trách nhiệm mang đến cho người ta nhiều tác hại, nó làm ta mất lòng tin ở mọi người, khó thành công trong công việc và cuộc sống…
Chúng ta không được lựa chọn nơi mình sinh ra nhưng được tự do lựa chọn cuộc sống và định hướng cá nhân. Chính vì vậy, chúng ta hãy trở thành một công dân tốt để người khác học tập theo. Khi chúng ta rèn luyện được đức tính “trách nhiệm”, ta sẽ rèn luyện được nhiều đức tính quý báu khác.
Là một chủ nhân tương lai của đất nước, chúng ta cần có trách nhiệm với chính bản thân mình cũng như có trách nhiệm xây dựng một đất nước giàu đẹp văn minh. Để làm được điều đó, ngay từ bây giờ, mỗi chúng ta hãy cố gắng rèn luyện cho mình tinh thần trách nhiệm và đẩy xa thói vô trách nhiệm.
Câu 1
-Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú luật Đường.
Câu 2
-Đối tượng trào phúng trong bài thơ là tác giả.
Câu 3
– Từ “làng nhàng” trong bài thơ có nghĩa là thuộc vào loại tạm gọi là trung bình, không có gì nổi bật.
– Từ “làng nhàng” góp phần thể hiện thái độ xem thường, mỉa mai, cười cợt chính mình của tác giả. Bên cạnh đó, từ này còn giúp bộc lộ cảm xúc buồn bã, tủi hổ của nhà thơ khi nhận thấy mình chỉ là kẻ tầm thường, vô dụng.
Câu 4
– Nghệ thuật trào phúng trong hai câu thơ là ẩn dụ.
– Tác dụng: Nhấn mạnh hoàn cảnh của đất nước (nước mất, bế tắc như thế cờ bí); hoàn cảnh của chính nhà thơ (chưa trọn cuộc đời làm quan đã bỏ về ở ẩn như con bạc chạy làng). Biện pháp ẩn dụ khắc họa rõ tiếng cười của tác giả tự chế nhạo mình là kẻ vô tích sự khi đất nước rơi vào cảnh khốn cùng thì bản thân chẳng thể làm gì có ích.
Câu 5
-Vào thời phong kiến, những người đỗ đạt trong các kì thi thường được khắc tên trên “bia xanh”, “bảng vàng”. Hai câu thơ chính là tiếng cười chua cay của tác giả. Ông tự cười cợt, khinh bỉ chính địa vị mà mình từng được ngồi. Dù có đỗ đạt nhưng chẳng thể làm gì trước cảnh nước mất nhà tan.
Câu 6
-Từ nội dung, thông điệp của bài thơ, theo em,để cống hiến, xây dựng quê hương đất nước giới trẻ hiện nay cần:
+ Cần noi theo tấm gương học tập của Bác Hồ, ra sức học hành, tích lũy tri thức, góp phần đưa đất nước phát triển với cường quốc năm châu.
+ Cần giữ gìn, bảo vệ những giá trị truyền thống nhưng cũng cần tiếp thu sự phát triển hiện đại của khoa học công nghệ.
+ Cần có ý thức quảng bá nét đẹp văn hóa đất nước với bạn bè năm châu.
Trong số những chuyến đi tìm về cội nguồn lịch sử, chuyến thăm Khu Di tích K9 Đá Chông tại Ba Vì, Hà Nội đã để lại trong em những ấn tượng sâu sắc và niềm xúc động khó tả. Đây không chỉ là một địa danh lịch sử, mà còn là nơi lưu giữ những năm tháng hoạt động và cả những năm tháng yên nghỉ thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Sáng sớm hôm đó, vượt qua những cung đường đồi núi xanh mát, đoàn chúng em đã đặt chân đến K9 Đá Chông. Cái tên Đá Chông bắt nguồn từ những mỏm đá nhọn hoắt mọc lên từ lòng đất, tựa như những mũi chông, ngọn mác kiên cường bảo vệ căn cứ. Vừa bước vào cổng, một không khí trang nghiêm, tĩnh lặng bao trùm, tách biệt hẳn với sự ồn ào của thế giới bên ngoài.
Chặng đầu tiên của hành trình là tham quan Ngôi nhà hai tầng theo kiểu nhà sàn, nơi Bác Hồ cùng Bộ Chính trị từng làm việc và nghỉ ngơi trong những năm 1960–1969. Ngôi nhà được thiết kế giản dị, hài hòa với thiên nhiên, phản ánh rõ nét phong cách sống thanh bạch của Người. Phía dưới là hầm trú ẩn kiên cố, minh chứng cho sự chuẩn bị chu đáo để lãnh đạo đất nước trong thời kỳ chiến tranh ác liệt. Qua lời kể của cô hướng dẫn viên, em hình dung được hình ảnh Bác vẫn miệt mài làm việc, tiếp khách quốc tế và chăm sóc vườn cây, ao cá dù tuổi đã cao và đất nước đang trong khói lửa chiến tranh.
Tuy nhiên, phần đặc biệt và thiêng liêng nhất của chuyến đi chính là khu vực Công trình ngầm – nơi Trung ương Đảng đã quyết định giữ gìn thi hài Bác trong những năm từ 1969 đến 1975 để đảm bảo an toàn tuyệt đối trước nguy cơ chiến tranh lan rộng. Dù công trình đã được hoàn trả lại nguyên trạng để phục vụ công tác gìn giữ tại Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Ba Đình, việc được đứng trước nơi Bác từng yên giấc ngủ ngàn thu trong bí mật đã làm em vô cùng xúc động. Em cảm nhận rõ sự quan tâm, lo lắng của Đảng và Nhà nước, cũng như sự hy sinh thầm lặng của đội ngũ cán bộ, chiến sĩ đã bảo vệ thi hài Bác trong suốt những năm tháng khó khăn ấy.
Rời khỏi K9 Đá Chông, trong lòng em đọng lại nhiều suy nghĩ. Chuyến đi này không chỉ là một bài học lịch sử sâu sắc về cuộc đời và sự nghiệp của Bác Hồ, mà còn là lời nhắc nhở về ý chí kiên cường, về sự giản dị mà vĩ đại của vị Cha già dân tộc. Khu di tích K9 Đá Chông đã trở thành một địa chỉ đỏ, nuôi dưỡng lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc và ý thức trách nhiệm gìn giữ những giá trị văn hóa, lịch sử mà thế hệ trước đã tạo dựng.
Dòng thơ "Pháo trúc nhà ai một tiếng đùng" là một nét vẽ âm thanh dứt khoát, báo hiệu thời khắc thiêng liêng của Giao thừa và sự xuất hiện của mùa xuân. Tiếng "đùng" quen thuộc ấy không chỉ mang không khí rộn ràng, tưng bừng của ngày Tết cổ truyền mà còn là biểu tượng mạnh mẽ của hi vọng và sự đổi mới. Nó báo hiệu mọi buồn lo của năm cũ đã qua đi, mở ra niềm tin về một khởi đầu tốt đẹp, may mắn và hạnh phúc đang chờ đợi. Tuy nhiên, trong toàn cảnh bài thơ Ông Đồ, âm thanh náo nhiệt này lại tạo ra sự tương phản sâu sắc với nỗi buồn cô đơn của người thầy đồ, làm nổi bật sự lạc lõng của cái cũ trước dòng chảy của cuộc sống mới. Dù vậy, tiếng pháo vẫn là sợi dây kết nối cảm xúc, thắp lên niềm hy vọng về sự sống và sự trân trọng những giá trị văn hóa truyền thống.
– Tâm trạng của một nhà nho gắn bó với bao nỗi vui buồn của nhân dân giữa thời loạn lạc, đói rét, lầm than. Nỗi buồn bơ vơ, cô đơn của một nhà nho bất đắc chí giữa thời cuộc, chỉ có thể đứng nhìn cảnh chợ thưa thớt, người người đói khổ. Nhà thơ cũng khao khát, mong ước có một tín hiệu tốt đẹp trong năm mới để nhân dân thoát khỏi hoàn cảnh bi đát hiện tại.
Trong hệ thống phòng thủ quốc gia, Quân chủng Phòng không – Không quân (PKKQ) luôn giữ một vị trí đặc biệt quan trọng, được mệnh danh là "thanh bảo kiếm" sắc bén, canh giữ sự bình yên và toàn vẹn của bầu trời Tổ quốc Việt Nam. PKKQ không chỉ là một lực lượng chiến đấu thiện chiến mà còn là biểu tượng của trí tuệ, công nghệ và tinh thần cảnh giác cao độ của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Lịch sử hình thành và phát triển của Quân chủng gắn liền với những trang sử hào hùng của dân tộc. Ra đời trên cơ sở hợp nhất Bộ Tư lệnh Phòng không và Cục Không quân vào ngày 22 tháng 10 năm 1963, Quân chủng đã nhanh chóng trưởng thành trong khói lửa chiến tranh. Đỉnh cao chói lọi chính là Chiến dịch "Điện Biên Phủ trên không" cuối năm 1972, khi các chiến sĩ PKKQ đã kiên cường, mưu trí bắn hạ "Pháo đài bay B-52" của đế quốc Mỹ, đập tan huyền thoại về sức mạnh không lực, buộc đối phương phải chấp nhận thất bại và ký kết Hiệp định Paris. Chiến công ấy mãi mãi là niềm tự hào không chỉ của Quân chủng mà còn của toàn dân tộc.
Vai trò cốt lõi của Quân chủng PKKQ là quản lý, bảo vệ vững chắc vùng trời, không phận quốc gia, đồng thời bảo vệ các mục tiêu chiến lược trọng yếu trên mặt đất. Để hoàn thành sứ mệnh cao cả này, Quân chủng được xây dựng dựa trên sự hợp lực của hai binh chủng chủ yếu. Lực lượng Phòng không gồm các đơn vị tên lửa, pháo phòng không và ra-đa cảnh giới. Họ là "mắt thần" không ngừng theo dõi mọi di biến động trên không, có nhiệm vụ phát hiện, cảnh báo sớm và tiêu diệt các mối đe dọa từ đường không, tạo "lá chắn thép" bảo vệ Tổ quốc từ trên cao. Bên cạnh đó, Lực lượng Không quân bao gồm các phi đội tiêm kích, cường kích, máy bay ném bom và vận tải. Đây là lực lượng xung kích, vừa thực hiện nhiệm vụ đánh chặn, bảo vệ không phận, vừa tiến hành trinh sát và chi viện hỏa lực cho các đơn vị tác chiến mặt đất, mặt biển.
Để làm chủ được bầu trời, người chiến sĩ PKKQ cần phải hội tụ những phẩm chất đặc biệt. Đó là tinh thần kỷ luật thép, khả năng làm chủ các trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ cao, phức tạp. Đặc biệt, đối với các phi công, đó còn là yêu cầu về sức khỏe thể chất phi thường, ý chí kiên cường và khả năng xử lý tình huống cực nhanh, chính xác trong điều kiện bay khắc nghiệt. Mỗi chuyến bay, mỗi lần ấn nút phóng tên lửa đều là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa trí tuệ và lòng dũng cảm.
Trong kỷ nguyên mới, đối diện với những thách thức an ninh phi truyền thống và sự phát triển vượt bậc của công nghệ quân sự thế giới, Quân chủng PKKQ đang đẩy mạnh quá trình hiện đại hóa, huấn luyện sát thực tế chiến đấu, không ngừng nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu. Việc làm chủ các khí tài hiện đại, đồng thời phát huy nghệ thuật quân sự độc đáo của Việt Nam, chính là lời cam kết mạnh mẽ nhất của Quân chủng trong việc giữ vững bầu trời, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Quân chủng Phòng không – Không quân mãi mãi xứng đáng là niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam.
Câu 1. Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú luật Đường.
Câu 2. Những hình ảnh thiên nhiên được nhắc đến trong bốn dòng thơ đầu: hoè lục đùn đùn; thạch lựu phun thức đỏ; hồng liên trì tiễn mùi hương.
Câu 3.
– Biện pháp đảo ngữ: từ “lao xao”, “dắng dỏi” được đảo lên đầu các dòng thơ “Lao xao chợ cá làng ngư phủ,/ Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương.”.
– Tác dụng:
+ Tạo nhạc điệu, gợi sự sôi nổi của đời sống.
+ Nhấn mạnh âm thanh sống động trong đời sống lao động của con người.
+ Làm nổi bật bức tranh mùa hè không chỉ có màu sắc, hương vị mà còn có âm thanh chân thực của con người và thiên nhiên.
Câu 4. Trong hai dòng thơ cuối, tác giả đã bộc lộ tình cảm, cảm xúc:
– Niềm mong ước thái bình: hình ảnh “Ngu cầm” gợi thời Nghiêu – Thuấn, nhân dân sống yên vui, hạnh phúc.
– Tình yêu thương nhân dân: ước muốn “dân giàu đủ khắp đòi phương” cho thấy tác giả lo cho đời sống muôn dân, không nghĩ riêng cho bản thân.
– Khát vọng nhân văn: Nguyễn Trãi gửi gắm tư tưởng “lấy dân làm gốc”, mong mỏi hạnh phúc chung cho xã hội.
=> Hai dòng thơ bộc lộ tình yêu dân, thương dân và khát vọng về một xã hội thái bình, nhân dân ấm no, hạnh phúc.
Câu 5.
– Chủ đề của bài thơ: Ca ngợi vẻ đẹp rực rỡ, sinh động của thiên nhiên ngày hè và thể hiện tấm lòng yêu đời, yêu dân, lo cho dân của Nguyễn Trãi.
– Căn cứ để xác định chủ đề:
+ Nhan đề của văn bản: “Cảnh ngày hè”.
+ Các từ ngữ miêu tả khung cảnh thiên nhiên; bộc lộ tình cảm, cảm xúc của tác giả.
Câu 6.
– Hình thức:
+ Mô hình đoạn văn phù hợp, đảm bảo không mắc lỗi diễn đạt, chính tả.
+ Dung lượng: ngắn gọn, từ 5 đến 7 dòng.
– Nội dung: Rút ra bài học trong việc giữ gìn tinh thần lạc quan, biết tận hưởng những điều bình dị quanh mình.
+ Biết trân trọng những điều giản dị trong đời sống: cảnh vật, âm thanh, sắc màu quanh ta.
+ Giữ cho mình tinh thần lạc quan, tìm thấy niềm vui ngay trong cuộc sống thường ngày, kể cả trong học tập, lao động.
+ Sống chan hoà với thiên nhiên, biết bảo vệ và làm giàu đẹp môi trường sống.
Bài thơ" Bạn đến chơi nhà" của nhà thơ Nguyễn Khuyến là một áng thơ đặc sắc trong văn học Việt Nam, nổi tiếng với sự kết hợp hài hòa giữa chất trào phúng nhẹ nhàng và tình bạn chân thành, mộc mạc. Sự đặc sắc của bài thơ được thể hiện rõ rệt qua cả nội dung sâu sắc và hình thức nghệ thuật độc đáo.
Về nội dung, bài thơ đã khắc họa một tình bạn chân thành,vô tư vượt lên trên mọi vật chất tầm thường. Dù gia cảnh nghèo khó, không có sơn hào hải vị để thiết đãi, nhà thơ vẫn thể hiện sự quý trọng và niềm vui tột độ khi bạn đến. Niềm vui lớn nhất được thể hiện tập trung ở câu thơ kết "Bác đễn chơi đây ta với ta", khẳng định rằng sự đồng điệu của tâm hồn giữa hai người bạn tri kỉ mới là điều quan trọng và quý giá nhất. Qua đó, tác phẩm cũng bộc lộ vẻ đẹp tâm hồn của nhà thơ: sống đạm bạc, chân thật và trọng tình cảm hơn của cải.
Nét đặc sắc về nội dung còn nằm ở chất trào phúng kín đáovà hóm hỉnh. Nhà thơ đã sử dụng cách liệt kê hàng loạt những thứ "không có" (trẻ đi vắng, gà đang ấp, cá bận lo đời,...) một cách phóng đại và hài hước để tự trào về sự nghèo khó của mình. Sự trào phúng này không mang tính châm biếm mà chỉ là cách nói dí dỏm, ngụ ý về sự thiếu thốn vật chất một cách đáng yêu, từ đó càng làm nổi bật giá trị của tình bạn.
Về hình thức nghệ thuât, bài thơ sử dụng thể thơ Thất ngôn bát cú Đường luật nhưng đã có nhiều sáng tạo, nổi bật là thủ pháp liệt kê và phủ định. Ở sáu câu thơ giữa, Nguyễn Khuyến liên tục sử dụng cấu trúc phủ định để tạo ra một chuỗi lý do "bất khả kháng" về việc không có gì để đãi bạn. Thủ pháp này không chỉ tạo nên sự hài hức,độc đáo mà còn làm nền cho câu thơ cuối cùng bật sáng.Ngôn ngữ của bài thơ cũng rất dân dã,mộc mạc, sử dụng các từ ngữ gần gũi ("trẻ", "gà", "cá", "cải", "mắm") thay vì ngôn ngữ ước lệ, hoa mỹ, giúp bài thơ trở nên sinh động và thân mật.
Tóm lại, bài thơ "Bạn đến chơi nhà" là một kiệt tác ca ngợi tình bạn tri kỉ. Tác phẩm đặc sắc nhờ sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa nội dung sâu sắc (tình bạn vô giá, nhân cách cao đẹp) và hình thức nghệ thuật tài hoa (thủ pháp liệt kê phủ định độc đáo, ngôn ngữ dân dã, hóm hỉnh), thể hiện trọn vẹn tài năng và sự tinh tế trong cảm xúc của nhà thơ Nguyễn Khuyến.