Ong Thị Yến Nhi
Giới thiệu về bản thân
Câu 1:Bài thơ “Tự trào” của Nguyễn Khuyến được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật. Câu2 :Đối tượng trào phúng trong bài thơ là chính tác giả – Nguyễn Khuyến. -) Ông tự cười mình, tự giễu hoàn cảnh nghèo khó, bất lực của bản thân khi đã rời chốn quan trường, sống cuộc đời thanh bạch nơi làng quê. Câu 3: “Làng nhàng” có nghĩa là - Không ra sao, tầm thường, mờ nhạt, chẳng có gì nổi bật. Từ làng góp phần thể hiện : Cảm xúc chua xót nhưng bình thản, chấp nhận hoàn cảnh sống nghèo khó, không danh lợi. → Qua đó cho thấy Nguyễn Khuyến là người khiêm nhường, có cái nhìn tỉnh táo về bản thân. Câu4 : BpttẨn dụ: “Cờ đương dở cuộc” → cuộc đời, sự nghiệp dang dở. “Bạc chửa thâu canh đã chạy làng” → nghèo đến mức không đủ tiền trả nợ. Cách nói dân gian, hình ảnh đời thường, giọng điệu hài hước. Tácdụng: Làm nổi bật hoàn cảnh nghèo túng, thất bại của tác giả. Tạo tiếng cười chua chát, vừa hài hước vừa xót xa. Thể hiện tinh thần tự trào sâu sắc, không than vãn mà tự cười mình. Câu 5 :Tác giả tự nhìn lại bản thân, vừa ngán ngẩm, vừa chua xót. “Bia xanh, bảng vàng” là hình ảnh tượng trưng cho vinh danh, đỗ đạt, công danh. Dù từng đỗ đạt cao, có danh tiếng nhưng cuối cùng cuộc sống vẫn nghèo khó, cô đơn. → Hai câu thơ thể hiện nỗi buồn kín đáo Câu 6 em rút ra đc là Không chạy theo danh lợi hời hợt, sống có mục tiêu rõ ràng. Học tập, rèn luyện đạo đức và tri thức để cống hiến thực chất cho xã hội. Có trách nhiệm với bản thân, gia đình và đất nước. Biết nhìn lại mình, sống khiêm tốn, trung thực, dám đối diện với khó khăn.
Câu 1:Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật
Câu 2:
Trợ từ: hà (trong câu: “Thì sự anh hùng hà bấy nhiêu?”) → Trợ từ “hà” dùng để nhấn mạnh giọng điệu mỉa mai, châm biếm.
Từ tượng hình: cheo leo → Gợi hình ảnh chênh vênh, nguy hiểm, tạo cảm giác trớ trêu, nhục nhã.
Câu 3
Từ ngữ miêu tả thái độ: ghé mắt trông ngang đứng cheo leo ví đây đổi phận hà bấy nhiêu Nhận xét: → Thái độ của nữ sĩ là khinh bỉ, mỉa mai, châm biếm sâu cay đối với Sầm Nghi Đống – một tướng giặc bại trận. Đồng thời thể hiện niềm tự hào dân tộc, đề cao chiến thắng của quân Tây Sơn và vua Quang Trung.
Câu4
Biện pháp tu từ: Ẩn dụ: “đứng cheo leo” không chỉ tả ngôi đền mà còn ẩn dụ cho địa vị thấp hèn, bẽ bàng của kẻ bại trận. Đảo ngữ: “ghé mắt trông ngang” → nhấn mạnh thái độ coi thường.
Tác dụng: → Làm nổi bật sự mỉa mai, châm biếm, hạ thấp hình ảnh tướng giặc, qua đó tôn vinh chiến thắng vẻ vang của dân tộc Việt Nam.
Câu5
Qua bài thơ, Hồ Xuân Hương gửi gắm thông điệp: Lên án, chế giễu những kẻ xâm lược dù từng quyền thế nhưng khi thất bại thì chỉ còn lại sự nhục nhã. Thể hiện niềm tự hào dân tộc, tinh thần yêu nước.
Câu 1. Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú luật Đường.
Câu 2. Những hình ảnh thiên nhiên được nhắc đến trong bốn dòng thơ đầu: hoè lục đùn đùn; thạch lựu phun thức đỏ; hồng liên trì tiễn mùi hương.
Câu 3. – Biện pháp đảo ngữ: từ “lao xao”, “dắng dỏi” được đảo lên đầu các dòng thơ “Lao xao chợ cá làng ngư phủ,/ Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương.”. – Tác dụng: + Tạo nhạc điệu, gợi sự sôi nổi của đời sống. + Nhấn mạnh âm thanh sống động trong đời sống lao động của con người.
+ Làm nổi bật bức tranh mùa hè không chỉ có màu sắc, hương vị mà còn có âm thanh chân thực của con người và thiên nhiên.
Câu 4. Trong hai dòng thơ cuối, tác giả đã bộc lộ tình cảm, cảm xúc: – Niềm mong ước thái bình: hình ảnh “Ngu cầm” gợi thời Nghiêu -Thuấn, nhân dân sống yên vui, hạnh phúc.
-Tình yêu thương nhân dân: ước muốn “dân giàu đủ khắp đòi phương” cho thấy tác giả lo cho đời sống muôn dân, không nghĩ riêng cho bản thân.
-Khát vọng nhân văn: Nguyễn Trãi gửi gắm tư tưởng “lấy dân làm gốc”, mong mỏi hạnh phúc chung cho xã hội.
=> Hai dòng thơ bộc lộ tình yêu dân, thương dân và khát vọng về một xã hội thái bình, nhân dân ấm no, hạnh phúc.
Câu 5
-Chủ đề của bài thơ: Ca ngợi vẻ đẹp rực rỡ, sinh động của thiên nhiên ngày hè và thể hiện tấm lòng yêu đời, yêu dân, lo cho dân của Nguyễn Trãi.
- Căn cứ vào :
Câu 6 :
Câu 9 tâm trạng của tác giả trong bài thơ là :
-Tâm trạng của một nhà thơ gắn bó với bao nỗi vui buồn của nhân dân giữa thời loạn lạc, đói rét, lầm than.
– Nỗi buồn bơ vơ, cô đơn của một nhà nho bất đắc chí giữa thời cuộc, chỉ có thể đứng nhìn cảnh chợ thưa thớt, người người đói khổ.
-Nhà thơ cũng khao khát, mong ước có một tín hiệu tốt đẹp trong năm mới để nhân dân thoát khỏi hoàn cảnh bi đát hiện tại.
-Thiên nhiên tươi đẹp, nên thơ, đầy sức sống: phân phất mưa phùn; mía cạnh giậu tre đang nảy ngọn; khoai trong đám cỏ đã xanh cây.
-Gợi lên khung cảnh miền quê bình yên, dân dã: Mặc manh áo ngắn giục trâu cày; Nàng dâu sớm đã gieo dưa đó; Bà lão chiều còn xới đậu đây.
-...
Tứ giác OBAC có ba góc vuông : góc B = góc C =góc BOC = 90∘
Nên OBAC là hình chữ nhật
Mà A nâm trên tia phân giác OM
Suy ra AB=AC
Khi đó OBAC là hình vuông
a)ABCD là hình bình hành nên : AB=DC
Suy ra 1/2 AB=1/2 DC
Do đó AM=BM=DN=CN. Tứ giác AMCN có AM // NC,AM=NC nên là hình bình hành.
Mà ΔADC vuông tại A có AN là đường trung tuyến nên AN=1/2 DC=DN=CN Hình bình hành AMCN có hai cạnh kề bằng nhau nên là hình thoi
Khi đó hai đường chéo AC,MN vuông góc với nhau. Nên tứ giác AMCN là hình thoi.
Ta có:ABCD là hình thoi nên AC⊥BD tại trung điểm của mỗi đường nên
BD là trung trực của AC Suy ra GA=GC,HA=HC (1) AC là đường trung trực của BD
Suy ra AG=AH,CG=CH (2) Từ (1),(2) suy ra AG=GC=CH=HA Nên AGCH là hình thoi.