Nguyễn Thị Hà Anh

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Thị Hà Anh
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1: - Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật. Câu 2: -Đối tượng trào phúng trong bài thơ: Tác giả Nguyễn Khuyến.

Câu 3: - Từ "Càng nhàng" trong bài thơ có nghĩa là tầm thường, không có gì nổi bật, thể hiện sự giễu cợt, tự trào, sự chán ngán bản thân, giọng điệu vừa hài hước vừa cay đắng của tác giả. Câu 4: - Nghệ thuật trào phúng, ẩn dụ, phóng đại, nói ngược, dùng hình ảnh cờ bạc để nói chuyện đời, chuyện làm quan. Tác dụng: làm nổi bật sự bất lực, thất bại, chán nản, thể hiện tâm trạng bế tắc và thái độ tự giễu sâu sắc của nhà thơ. Câu 5: - Hai câu thơ thể hiện tâm trạng lúc mâu thuẫn tác giả vừa vừa chán nản, vừa trách mình, vừa chưa chai lì dù bạc lực, không làm được gì lớn lao nhưng vẫn mang danh vọng. Qua đó, bộc lộ nỗi đau thời thở là nhân cách trong sạch của nhà thơ

Câu 1 -Văn bản kể về câu chuyện châm biếm thói giả dối của viên quan chỉ biết luồn cúi cấp trên và hách dịch với dân thường. Câu 2 -Từ “hách dịch” có nghĩa là thái độ hống hách, coi thường người khác, tỏ ra quyền uy và thích bắt nạt người yếu thế. Câu 3 - Câu nói của người thợ may thực chất mang ý châm biếm viên quan. Người thợ không thật sự hỏi để may áo cho vừa mà muốn mượn chuyện may áo để chỉ ra bộ mặt hai chiều của ông quan này: khi gặp cấp trên thì khom lưng, nhún nhường; còn khi gặp dân thì hống hách, coi thường. Cách nói khéo léo ấy vừa tế nhị vừa sắc bén, vạch trần sự đạo đức giả của viên quan nhưng vẫn giữ được phép tôn trọng bề ngoài. Câu 4 - Câu chuyện phê phán kiểu người nắm quyền lực nhưng thiếu đạo đức, sống giả tạo, đối xử không công bằng, luôn tìm cách nịnh bợ cấp trên và thô bạo với người dân. Đây là lớp người quan lại tha hóa, làm xấu đi bộ mặt xã hội. Câu 5 Qua câu chuyện, ta có thể rút ra nhiều thông điệp có giá trị trong cuộc sống. Trước hết, mỗi người cần sống trung thực, thẳng thắn, không nên hành xử hai mặt hay thay đổi thái độ tùy theo địa vị của người khác. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, việc tôn trọng mọi người, đặc biệt là những người yếu thế, là điều cần thiết để giữ gìn nhân phẩm của chính mình. Câu chuyện cũng nhắc nhở rằng quyền lực đi kèm trách nhiệm; người có chức quyền phải biết dùng nó để giúp dân, chứ không được ức hiếp hay lợi dụng. Ngoài ra, chúng ta cần biết phê phán những hành vi giả dối, bất công để xây dựng một xã hội trong sạch và công bằng. Khi mỗi người đều biết cư xử tử tế, cuộc sống sẽ trở nên nhân văn và tốt đẹp hơn.

Câu 1

- Bài thơ được viết theo thể thơ: thất ngôn bát cú đường luật.

Câu 2.

-Những hình ảnh thiên nhiên được nhắc đến trong bốn dòng thơ đầu: hoè lục đùn đùn; thạch lựu phun thức đỏ; hồng liên trì tiễn mùi hương.

Câu 3. – Biện pháp đảo ngữ: từ “lao xao”, “dắng dỏi” được đảo lên đầu các dòng thơ “Lao xao chợ cá làng ngư phủ,/ Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương.”. – Tác dụng: + Tạo nhạc điệu, gợi sự sôi nổi của đời sống. + Nhấn mạnh âm thanh sống động trong đời sống lao động của con người. + Làm nổi bật bức tranh mùa hè không chỉ có màu sắc, hương vị mà còn có âm thanh chân thực của con người và thiên nhiên.

Câu 4.

Trong hai dòng thơ cuối, tác giả đã bộc lộ tình cảm, cảm xúc: – Niềm mong ước thái bình: hình ảnh “Ngu cầm” gợi thời Nghiêu – Thuấn, nhân dân sống yên vui, hạnh phúc. – Tình yêu thương nhân dân: ước muốn “dân giàu đủ khắp đòi phương” cho thấy tác giả lo cho đời sống muôn dân, không nghĩ riêng cho bản thân. – Khát vọng nhân văn: Nguyễn Trãi gửi gắm tư tưởng “lấy dân làm gốc”, mong mỏi hạnh phúc chung cho xã hội. => Hai dòng thơ bộc lộ tình yêu dân, thương dân và khát vọng về một xã hội thái bình, nhân dân ấm no, hạnh phúc.

Câu 5. – Chủ đề của bài thơ: Ca ngợi vẻ đẹp rực rỡ, sinh động của thiên nhiên ngày hè và thể hiện tấm lòng yêu đời, yêu dân, lo cho dân của Nguyễn Trãi. – Căn cứ để xác định chủ đề: + Nhan đề của văn bản: “Cảnh ngày hè”. + Các từ ngữ miêu tả khung cảnh thiên nhiên; bộc lộ tình cảm, cảm xúc của tác giả. + Nội dung chính của các phần.

Câu 6. – Hình thức: + Mô hình đoạn văn phù hợp, đảm bảo không mắc lỗi diễn đạt, chính tả. + Dung lượng: ngắn gọn, từ 5 đến 7 dòng. – Nội dung: Rút ra bài học trong việc giữ gìn tinh thần lạc quan, biết tận hưởng những điều bình dị quanh mình. + Biết trân trọng những điều giản dị trong đời sống: cảnh vật, âm thanh, sắc màu quanh ta. + Giữ cho mình tinh thần lạc quan, tìm thấy niềm vui ngay trong cuộc sống thường ngày, kể cả trong học tập, lao động. + Sống chan hoà với thiên nhiên, biết bảo vệ và làm giàu đẹp môi trường sống

Việc sống hòa hợp với thiên nhiên có ý nghĩa lớn lao. Chúng ta phải nhớ rằng chúng ta là một phần của tự nhiên và phụ thuộc vào nó để tồn tại. Sự tôn trọng và bảo vệ môi trường tức là chúng ta đang bảo vệ cuộc sống của chính mình. Chúng ta cần giảm thiểu tác động của mình đối với hành tinh, bảo vệ đất đai, không khí và nước, để đảm bảo một tương lai bền vững cho thế hệ tương lai. Sống hòa hợp với thiên nhiên cũng giúp chúng ta có cơ hội tận hưởng vẻ đẹp tự nhiên và tạo ra một môi trường sống lành mạnh cho tất cả các loài trên trái đất. Nếu không sống hòa hợp với thiên nhiên, sức khỏe thể chất và tinh thần của con người đều sẽ bị ảnh hưởng. Do đó, hãy có lối sống chan hòa và kết nối cùng thiên nhiên để có những khoảnh khắc đẹp trong đời.

Thiên nhiên tươi đẹp, nên thơ, đầy sức sống: phân phất mưa phùn; mía cạnh giậu tre đang nảy ngọn; khoai trong đám cỏ đã xanh cây.