Hoàng Hải Vân
Giới thiệu về bản thân
Bài thơ được viết theo thể thơ Thất ngôn bát cú Đường luật. Câu 2. Đối tượng trào phúng trong bài thơ là ai?
Đối tượng trào phúng trong bài thơ là chính tác giả (Nguyễn Khuyến), hay cụ thể hơn là hình ảnh con người mình trong xã hội lúc bấy giờ. Câu 3. Từ “làng nhàng” trong bài thơ có nghĩa là gì? Từ này góp phần thể hiện thái độ, cảm xúc gì của tác giả?
- Nghĩa của từ "làng nhàng": Ý nói về một trạng thái sống tầm thường, không có gì nổi bật, ở mức trung bình, xoàng xĩnh, không hơn không kém người khác.
- Thái độ, cảm xúc của tác giả: Thể hiện thái độ tự trào, tự giễu cợt, và cảm xúc chán ngán, buồn tủi về chính bản thân mình, một người tài nhưng phải sống trong thời thế loạn lạc, không thể làm được việc lớn.
Cờ đương dở cuộc không còn nước, Bạc chửa thâu canh đã chạy làng.
- Nghệ thuật trào phúng: Tác giả sử dụng biện pháp ẩn dụ (qua hình ảnh "cờ" và "bạc") và nghệ thuật đối xứng (giữa hai vế trong từng câu và giữa hai câu thơ).
- Tác dụng: Dùng hình ảnh chơi cờ, chơi bạc để ví von, châm biếm về sự bất lực, bế tắc của bản thân trước thời cuộc. Tác dụng gây cười mà chua xót, thể hiện sự bế tắc, không còn đường đi nước bước nào để xoay xở với cuộc đời, đành chấp nhận "chạy làng" (bỏ cuộc).
Nghĩ mình lại ngán cho mình nhỉ, Mà cũng bia xanh, cũng bảng vàng.Hai câu thơ này thể hiện sự xót xa, mỉa mai sâu sắc của tác giả về sự đối lập trớ trêu giữa thực tế và danh vọng:
- Thực tế: Tác giả tự thấy mình là người vô dụng, "ngán" (chán, sợ) chính mình.
- Danh vọng: Dù vậy, tác giả lại là người có học vị cao, đỗ đạt (được khắc tên trên "bia xanh", được xướng tên trên "bảng vàng" - tức là Tam Nguyên Yên Đổ).
Sự đối lập này nhấn mạnh bi kịch của người trí thức tài năng nhưng không thể đóng góp cho đất nước trong thời buổi loạn lạc, phải sống ẩn dật, vô danh.
Từ thông điệp về sự bất lực và lãng phí tài năng trong bài thơ, giới trẻ ngày nay cần:
- Nỗ lực học tập, rèn luyện để nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn.
- Có ý thức trách nhiệm với cộng đồng, xã hội, chủ động tìm kiếm cơ hội để cống hiến, không sống một cuộc sống "làng nhàng", vô nghĩa.
- Bản lĩnh và kiên cường đối mặt với khó khăn, thử thách của thời đại để phát huy tối đa khả năng của bản thân, đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Thông thường, sau những ngày tháng học tập và lao động mệt mỏi, con người thường tìm đến những chuyến du lịch để tìm lại sự cân bằng, thư thái. Đối với em, chuyến du lịch với bạn bè lớp 6A là những kỷ niệm và hành trang đáng nhớ. Đến tận bây giờ, em vẫn không thể nào quên được chuyến du lịch vui vẻ và bổ ích ấy.
Nhân ngày nghỉ Tết dương lịch, lớp em đã tổ chức một chuyến đi du lịch ở khu K9 và Làng Văn hóa các dân tộc Việt Nam tại Hà Nội. Cả lớp và cô giáo chủ nhiệm ai cũng vui bởi vì sau kỳ thi căng thẳng chúng em sẽ có những giây phút vui chơi và nô đùa cùng nhau. Tất cả lịch trình và địa điểm em chúng em đều đã nắm rõ, chắc hẳn chuyến du lịch sẽ rất vui và bổ ích.
Buổi tối hôm ấy, em đã rất hồi hộp và chờ đợi chuyến du lịch ngày hôm sau. Những thực phẩm và dụng cụ cần thiết em đã chuẩn bị rất kĩ. Hôm sau, em thức dậy vào lúc 5 giờ để vệ sinh cá nhân, mọi thứ đã sẵn sàng. Đúng 5:30, chúng em bắt đầu đến trường tập trung, chiếc xe du lịch đã đến đón chúng em, cuộc hành trình đã bắt đầu.
Ngồi trên xe, chúng em trò chuyện với nhau rất vui và dự đoán về chuyến du lịch sắp tới. Hướng dẫn viên du lịch của chúng em là chú Minh – một người rất vui tính và thân thiện. Chú đang nói cho chúng em nghe rất nhiều câu chuyện về địa điểm du lịch của lớp, bên cạnh đó, chúng em còn được thư giãn bằng một trò chơi mà chú Minh đã đưa ra, đó chính là “Lắng nghe và ghi nhớ” . Khi nghe chú thuyết trình về địa điểm du lịch, chúng em phải ghi nhớ, những ý chính, rồi khi được chú hỏi lại, bạn nào trả lời đúng sẽ được nhận quà. Em thấy đây là một trò chơi rất bổ ích, giúp chúng em ghi nhớ và có thêm nhiều hiểu biết về những địa điểm du lịch mà chú đã hướng dẫn.
Cuối cùng cũng đến nơi, khung cảnh ở đây thật tuyệt làm sao! Những đồi núi hùng vĩ, cây cối trên núi thì xanh tươi mượt mà, những làn gió lướt nhẹ làm cho chúng đung đưa như đang rì rầm trò chuyện. Chúng em được ghé thăm khu di tích lịch sử K9, ở đó có rất nhiều binh sĩ, các chú trông rất oai phong và trang trọng. Cô giáo chủ nhiệm lớp và chú Minh đã dẫn chúng em đến tham quan ngôi nhà xưa của Bác Hồ, ngôi nhà thật đẹp và đã được sửa sang lại. Sau khi tham quan các khu di tích lịch sử, tất cả các bạn trong lớp đều cảm thấy đói nên chúng em được đi ăn trưa và nghỉ ngơi. Chúng em được dẫn đến nhà hàng “Quê Hương” để ăn trưa, đồ ăn ở đây rất ngon và đầy đủ chất dinh dưỡng. Sau khi ăn trưa, cả lớp được chú Minh dẫn đến một địa điểm để mua quà lưu niệm và các món đồ ăn vặt, em đã mua một vài món quà xinh xinh để mang về tặng cho gia đình. Sau khi ăn nhẹ và mua quà, chúng em trở về khách sạn đã được thuê để nghỉ trưa kết thúc một buổi sáng thật vui và ý nghĩa.
Một buổi chiều đẹp trời lại đến, lớp chúng em lại được tham quan một địa điểm nữa đó chính là “ Làng văn hóa các dân tộc Việt Nam”. Vừa đến nơi, chúng em đã được chụp một bức ảnh kỉ niệm. Vào tham quan tháp Chăm, Đền Cổ và một số ngôi nhà của người dân tộc khác. Đi một vòng quanh khu di tích, chúng em đã dừng chân ở một bãi cỏ trống rất xanh và rộng, trên bãi cỏ đó có những đồ dùng cần thiết để cho chúng em chơi – thì ra là cô giáo và chú Minh đã chuẩn bị. Mỗi tổ sẽ tham gia một trò chơi, đội nào thắng cuộc sẽ giành được những món quà. Mọi người ai cũng chơi thật hào hứng và vui vẻ.
Chẳng mấy mà đã kết thúc một ngày, chúng em phải trở về nhà. Trước khi lên xe, chú Minh đã chào tạm biệt chúng em và chúc lớp có thật nhiều thành tích cao trong học tập. Thế là một chuyến du lịch bổ ích đã khép lại, hôm ấy, phải rất muộn em mới về đến nhà. Em đã kể cho mọi người nghe về chuyến du lịch rất vui của mình cùng với các bạn, qua đây em cảm thấy mình trưởng thành và có thêm được nhiều những kiến thức bổ ích. Hi vọng rằng trong tương lai em sẽ có thêm nhiều chuyến du lịch như vậy cùng với các bạn trong lớp.
Chuyến đi đó đã giúp chúng em của mở rộng tầm hiểu biết của mình, thêm nữa còn tăng thêm tình đoàn kết giữa các bạn trong lớp với nhau. Tất cả sẽ mãi là một kỉ niệm đẹp in dấu trong tâm trí của mỗi thành viên trong lớp. Đối với bản thân em, đây là một chuyến hành trình cũng như một lần trải nghiệm đáng nhớ nhớ mà không bao giờ em quên.
– Hình thức:
+ Dung lượng: 5 – 7 câu.
+ Không mắc lỗi diễn đạt, lặp từ, chính tả.
– Nội dung:
+ Giúp con người có động lực vượt qua nghịch cảnh, không dễ dàng gục ngã.
+ Nuôi dưỡng tinh thần lạc quan, tin tưởng vào những điều tốt đẹp sẽ đến.
+ Tiếp thêm sức mạnh để kiên trì, bền bỉ theo đuổi mục tiêu.
+ Gợi mở khả năng thay đổi, vươn lên làm cho cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn
– Tâm trạng của một nhà nho gắn bó với bao nỗi vui buồn của nhân dân giữa thời loạn lạc, đói rét, lầm than.
– Nỗi buồn bơ vơ, cô đơn của một nhà nho bất đắc chí giữa thời cuộc, chỉ có thể đứng nhìn cảnh chợ thưa thớt, người người đói khổ.
– Nhà thơ cũng khao khát, mong ước có một tín hiệu tốt đẹp trong năm mới để nhân dân thoát khỏi hoàn cảnh bi đát hiện tại.
Mỗi chuyến đi, dù ngắn hay dài, đều mang trong mình những câu chuyện riêng, những bài học riêng và những kỷ niệm khó phai. Nhưng đối với em, chuyến hành trình về với mảnh đất Cổ Loa lịch sử, một cái nôi của văn hóa Việt, thực sự là một dấu ấn sâu đậm trong tâm trí. Ngay từ khi nhận được thông báo về chuyến tham quan khu di tích Cổ Loa, em đã không giấu nổi sự háo hức và mong chờ tột độ. Không chỉ là một buổi dã ngoại thông thường, đây còn là cơ hội để chúng em chạm tay vào những trang sử vàng son của dân tộc, nơi ghi dấu những huyền thoại về Âu Lạc, về An Dương Vương và công chúa Mỵ Châu. Cảm giác được hòa mình vào không gian cổ kính, hít thở bầu không khí ngập tràn hơi thở của ngàn năm văn hiến, tưởng tượng về những con người, những sự kiện đã làm nên lịch sử, thực sự là một trải nghiệm không thể nào quên.
Sự háo hức đó không chỉ đến từ việc được thoát khỏi những bức tường lớp học quen thuộc, mà còn xuất phát từ niềm khao khát được tìm hiểu, được khám phá. Trước khi đi, em đã tìm đọc khá nhiều tài liệu về Cổ Loa, về truyền thuyết Nỏ Thần, về thành ốc, về bi kịch tình yêu và lòng yêu nước. Mỗi câu chữ, mỗi hình ảnh đều thắp lên trong em một ngọn lửa tò mò và kính trọng. Em tự nhủ, đây không chỉ là một chuyến đi chơi, mà là một cuộc hành hương về cội nguồn, nơi em sẽ được tận mắt chứng kiến, tận tai lắng nghe và tận tâm cảm nhận những giá trị lịch sử và văn hóa mà ông cha ta đã gìn giữ qua bao thế hệ. Chuyến đi hứa hẹn sẽ đưa em vượt qua không gian và thời gian, trở về một thời kỳ xa xưa đầy biến động và vinh quang, mở ra một cánh cửa mới trong tâm hồn em về tình yêu quê hương đất nước.
Buổi sáng ngày hôm ấy, không khí tại sân trường thật đặc biệt, rộn ràng và náo nhiệt hơn bất kỳ ngày học nào khác. Đúng 6 giờ 30 phút, toàn bộ các bạn học sinh, ai nấy đều với gương mặt rạng rỡ, háo hức, đã có mặt đông đủ, xếp hàng ngay ngắn trước cổng trường. Những chiếc balo nhỏ xinh mang theo đồ ăn nhẹ và nước uống, cùng với chiếc mũ đồng phục quen thuộc, tạo nên một khung cảnh tràn đầy sức sống và tinh thần đoàn kết. Sau khi điểm danh và nhận những lời dặn dò cuối cùng từ thầy cô, đúng 6 giờ 45 phút, đoàn xe khởi hành bon bon lăn bánh, mang theo biết bao hy vọng và mong chờ của chúng em. Trên xe, không khí vô cùng sôi động. Những câu chuyện rôm rả, tiếng cười giòn tan xen lẫn những câu đố vui, những bài hát đồng thanh vang khắp khoang xe, xua tan đi sự mệt mỏi của một buổi sáng phải dậy sớm. Qua khung cửa kính, những hàng cây xanh mướt hai bên đường cùng những ngôi nhà cao tầng dần nhường chỗ cho những cánh đồng lúa bát ngát, những mái nhà ngói đỏ trầm mặc, báo hiệu chúng em đang dần tiến sâu vào vùng đất ngoại ô thanh bình của Hà Nội.
Khi xe tiến gần đến khu vực Cổ Loa, một cô hướng dẫn viên duyên dáng với giọng nói truyền cảm đã bắt đầu giới thiệu về khu di tích. Cô không chỉ kể về vị trí địa lý của làng Cổ Loa mà còn đưa chúng em ngược dòng thời gian về với những truyền thuyết xa xưa. Từ truyền thuyết về việc vua An Dương Vương xây thành ốc ba vòng, với sự giúp đỡ của Rùa Vàng, đến câu chuyện tình bi ai giữa Mỵ Châu – Trọng Thủy, những điều mà chúng em chỉ được đọc trong sách vở, nay được nghe kể một cách sống động, chi tiết hơn. Cô cũng không quên nhắc nhở chúng em về những quy định cần tuân thủ khi tham quan, nhằm giữ gìn sự tôn nghiêm và vẻ đẹp của khu di tích. Mỗi câu chuyện cô kể như mở ra một cánh cửa đến quá khứ, khiến chúng em càng thêm phần háo hức, mong muốn được tận mắt chứng kiến những dấu tích huyền thoại đó. Không khí trên xe dần trở nên trầm lắng hơn, nhưng không phải vì buồn chán, mà là vì tất cả đều đang chăm chú lắng nghe, tưởng tượng và đắm chìm vào những trang sử hào hùng, bi tráng của dân tộc. Đúng là một buổi sáng đầy ý nghĩa và cảm xúc, đặt nền móng cho một hành trình khám phá không thể nào quên.
Khi đặt chân đến Cổ Loa, khung cảnh đầu tiên đập vào mắt em là một không gian rộng lớn, yên bình và cổ kính, hoàn toàn khác biệt so với sự ồn ào, tấp nập của đô thị. Những bức tường thành đất kiên cố, tuy đã nhuốm màu thời gian và bị bào mòn bởi thiên nhiên, vẫn sừng sững uy nghi, gợi lên hình ảnh một kinh đô hùng mạnh thuở xưa. Điểm dừng chân đầu tiên của chúng em chính là Đền thờ vua An Dương Vương, một công trình kiến trúc cổ kính nằm giữa không gian xanh mát của những hàng cây cổ thụ. Ngay khi bước qua cổng tam quan, một cảm giác trang nghiêm, thành kính bao trùm lấy tâm hồn. Ngôi đền được xây dựng theo lối kiến trúc truyền thống Việt Nam, với mái ngói cong vút, những cột gỗ lim to lớn và các họa tiết chạm khắc tinh xảo, thể hiện sự tài hoa của người thợ thủ công xưa. Bức tượng An Dương Vương uy nghi, đường bệ, ngự trị tại chính điện, toát lên vẻ oai phong lẫm liệt của một vị vua khai quốc. Trong buổi lễ dâng hương, chúng em đã cùng nhau thành kính cúi đầu, tưởng nhớ công lao dựng nước và giữ nước vĩ đại của đức vua. Hương trầm nghi ngút bay lên, hòa quyện với những lời cầu nguyện chân thành, tạo nên một không gian thiêng liêng, khiến mỗi người trong chúng em đều cảm thấy mình là một phần của dòng chảy lịch sử đầy tự hào.
Rời Đền thờ vua An Dương Vương, chúng em tiếp tục hành trình đến Đình Cổ Loa, một kiến trúc độc đáo khác nằm trên nền cung điện thiết triều xưa của vua An Dương Vương, với tấm bia đá khắc dòng chữ "Ngự Triều Di Quy" đầy ý nghĩa, nhắc nhở về những vết tích còn sót lại của triều đình. Đình Cổ Loa không chỉ là nơi sinh hoạt văn hóa cộng đồng mà còn là một bảo tàng sống động về kiến trúc và điêu khắc truyền thống. Từ những bức chạm trổ tinh xảo trên xà nhà, những bức hoành phi, câu đối được sơn son thếp vàng, tất cả đều gợi lên một thời kỳ vàng son của kinh đô Âu Lạc. Đứng trong không gian Đình Cổ Loa, em đã cố gắng mường tượng lại những cảnh thiết triều oai nghiêm, những cuộc họp bàn đại sự trị quốc ngày xưa. Cảm giác như được chạm tay vào từng phiến đá, từng nét chạm khắc, em như nghe thấy tiếng vọng của lịch sử, của những quyết sách trọng đại đã từng được đưa ra tại nơi đây, ảnh hưởng đến vận mệnh của cả một dân tộc. Tuy nhiên, ấn tượng sâu sắc nhất và ám ảnh nhất đối với em chính là Am Bà Chúa, nơi thờ công chúa Mỵ Châu. Không gian ở đây dường như có một vẻ tĩnh lặng đến lạ lùng, bao trùm bởi sự trầm mặc và u buồn. Giữa am là tảng đá hình cô gái không đầu, được bao quanh bởi những câu chuyện truyền thuyết bi thương gắn liền với số phận của nàng công chúa. Em đã đứng lặng đi rất lâu trước tảng đá ấy, lòng trào dâng bao cảm xúc xót xa và thương cảm cho số phận bi kịch của một người con gái mang trong mình cả tình yêu và trách nhiệm với đất nước. Câu chuyện Mỵ Châu – Trọng Thủy không chỉ là một truyền thuyết lịch sử mà còn là một bài học sâu sắc về lòng yêu nước, về sự cảnh giác và về bi kịch tình yêu trong bối cảnh chiến tranh loạn lạc, khiến em không khỏi suy ngẫm về những giá trị đạo đức và lòng trung thành.
Buổi chiều sau những giờ phút đắm mình vào không gian thiêng liêng và trầm tư của lịch sử, chúng em được nghỉ ngơi và ăn trưa tại một khu vực thoáng đãng, mát mẻ trong khuôn viên di tích. Bữa trưa tuy giản dị nhưng lại vô cùng ấm cúng, khi chúng em quây quần bên nhau, chia sẻ đồ ăn và những cảm nhận đầu tiên về chuyến đi. Sau khi nạp đầy năng lượng, chúng em được tham gia vào các trò chơi dân gian đầy hào hứng và tiếng cười. Trò đập niêu đất, với những tiếng cười sảng khoái mỗi khi có bạn bị bịt mắt loay hoay không định hướng được chiếc niêu, hay những tiếng reo hò cổ vũ khi một chiếc niêu bị đập vỡ, đã mang lại những giây phút thư giãn thực sự vui vẻ. Trò nhảy bao bố cũng không kém phần sôi động, với những bước nhảy vụng về nhưng đầy quyết tâm, những lần vấp ngã rồi bật dậy, tất cả tạo nên một không khí gắn kết, sôi nổi, xóa tan đi khoảng cách giữa các thành viên. Những trò chơi này không chỉ là giải trí mà còn giúp chúng em thêm phần hiểu biết và yêu thích những nét văn hóa truyền thống của dân tộc, những trò chơi đã gắn liền với tuổi thơ của bao thế hệ người Việt.
Tiếp nối những trò chơi dân gian đầy tiếng cười, chúng em được chiêm ngưỡng một màn trình diễn múa rối nước ấn tượng. Sân khấu múa rối được dàn dựng đơn giản nhưng sống động trên mặt nước, với những con rối gỗ được những nghệ nhân tài hoa điều khiển khéo léo từ phía sau bức màn. Những câu chuyện được kể lại qua từng con rối, từ cảnh sinh hoạt đồng áng, cấy cày, se tơ dệt lụa cho đến những truyền thuyết cổ tích, những trận đánh anh hùng, tất cả đều được tái hiện một cách mộc mạc mà đầy nghệ thuật. Âm nhạc dân gian trầm bổng, du dương cùng với tiếng trống, tiếng kèn đã tạo nên một không gian nghệ thuật độc đáo, khiến chúng em như lạc vào một thế giới cổ tích, đầy màu sắc và huyền ảo. Em đặc biệt ấn tượng với sự khéo léo của các nghệ nhân khi điều khiển con rối như có linh hồn, mỗi động tác đều rất thật và biểu cảm. Màn trình diễn này không chỉ mang đến tiếng cười, sự ngưỡng mộ mà còn giúp chúng em nhận ra vẻ đẹp tinh túy của nghệ thuật dân gian Việt Nam, một nét văn hóa độc đáo cần được trân trọng và gìn giữ. Nó là một minh chứng sống động cho sự sáng tạo và tinh thần lạc quan của người Việt Nam qua bao đời.
Buổi chiều dần buông, mang theo cơn gió se lạnh, báo hiệu chuyến hành trình của chúng em sắp kết thúc. Đúng 4 giờ 30 phút chiều, chúng em tập trung lên xe, trở về trường. Dù mệt mỏi sau một ngày dài khám phá, nhưng ai nấy đều mang theo những nụ cười mãn nguyện và ánh mắt rạng ngời. Trên đường về, không khí trên xe không còn sôi động như lúc đi, mà thay vào đó là những cuộc trò chuyện trầm lắng hơn về những điều đã thấy, đã nghe, đã cảm nhận được ở Cổ Loa. Ai đó bắt đầu kể lại một chi tiết thú vị mà mình ấn tượng nhất, bạn khác lại chia sẻ suy nghĩ về bi kịch của công chúa Mỵ Châu, và cả lớp cùng nhau ôn lại những truyền thuyết lịch sử. Không chỉ được nghe giới thiệu, được tham quan những dấu tích cổ kính, mà thông qua những hoạt động tương tác như trò chơi dân gian và múa rối nước, chuyến đi đã thực sự giúp chúng em
Câu 1. Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú luật Đường.
Câu 2. Những hình ảnh thiên nhiên được nhắc đến trong bốn dòng thơ đầu: hoè lục đùn đùn; thạch lựu phun thức đỏ; hồng liên trì tiễn mùi hương.
Câu 3.
– Biện pháp đảo ngữ: từ “lao xao”, “dắng dỏi” được đảo lên đầu các dòng thơ “Lao xao chợ cá làng ngư phủ,/ Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương.”.
– Tác dụng:
+ Tạo nhạc điệu, gợi sự sôi nổi của đời sống.
+ Nhấn mạnh âm thanh sống động trong đời sống lao động của con người.
+ Làm nổi bật bức tranh mùa hè không chỉ có màu sắc, hương vị mà còn có âm thanh chân thực của con người và thiên nhiên.
Câu4. Trong hai dòng thơ cuối, tác giả đã bộc lộ tình cảm, cảm xúc:
– Niềm mong ước thái bình: hình ảnh “Ngu cầm” gợi thời Nghiêu – Thuấn, nhân dân sống yên vui, hạnh phúc.
– Tình yêu thương nhân dân: ước muốn “dân giàu đủ khắp đòi phương” cho thấy tác giả lo cho đời sống muôn dân, không nghĩ riêng cho bản thân.
– Khát vọng nhân văn: Nguyễn Trãi gửi gắm tư tưởng “lấy dân làm gốc”, mong mỏi hạnh phúc chung cho xã hội.
=> Hai dòng thơ bộc lộ tình yêu dân, thương dân và khát vọng về một xã hội thái bình, nhân dân ấm no, hạnh phúc.
Câu 5.
– Chủ đề của bài thơ: Ca ngợi vẻ đẹp rực rỡ, sinh động của thiên nhiên ngày hè và thể hiện tấm lòng yêu đời, yêu dân, lo cho dân của Nguyễn Trãi.
– Căn cứ để xác định chủ đề:
+ Nhan đề của văn bản: “Cảnh ngày hè”.
+ Các từ ngữ miêu tả khung cảnh thiên nhiên; bộc lộ tình cảm, cảm xúc của tác giả.
+ Nội dung chính của các phần.
Câu 6.
– Hình thức:
+ Mô hình đoạn văn phù hợp, đảm bảo không mắc lỗi diễn đạt, chính tả.
+ Dung lượng: ngắn gọn, từ 5 đến 7 dòng.
– Nội dung: Rút ra bài học trong việc giữ gìn tinh thần lạc quan, biết tận hưởng những điều bình dị quanh mình.
+ Biết trân trọng những điều giản dị trong đời sống: cảnh vật, âm thanh, sắc màu quanh ta.
+ Giữ cho mình tinh thần lạc quan, tìm thấy niềm vui ngay trong cuộc sống thường ngày, kể cả trong học tập, lao động.
+ Sống chan hoà với thiên nhiên, biết bảo vệ và làm giàu đẹp môi trường sống.
Nguyễn Khuyến là một nhà thơ lớn của dân tộc. Một trong những tác phẩm tiêu biểu của ông là “Bạn đến chơi nhà”. Bài thơ đã ca ngợi tình bạn chân thành, thắm thiết:
“Đã bấy lâu nay, bác tới nhà
Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa.
Ao sâu nước cả, khôn chài cá,
Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà.
Cải chửa ra cây, cà mới nụ,
Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa.
Đầu trò tiếp khách, trầu không có,
Bác đến chơi đây ta với ta!”
Cụm từ “đã bấy lâu nay” chỉ thời gian rất lâu rồi, người bạn của Nguyễn Khuyến mới đến chơi nhà. Điều đó khiến cho nhà thơ rất vui mừng, hạnh phúc. Cùng với cách xưng hô “bác” thể hiện mối quan hệ gần gũi, thân mật. Câu thơ đầu như một tiếng reo vui, một lời đón khách đầy cởi mở. Dẫu vậy thì hoàn cảnh của nhà thơ lúc này cũng thật là éo le. Trẻ em thì đi vắng rồi, không có người để sai đi mua đồ tiếp đãi bạn được vì chợ ở quá xa. Tưởng rằng như vậy là chưa đủ, nhà thơ còn liệt kê một loạt các sự vật như “ao sâu - khôn chài cá”, “cải chửa ra cây, cà mới nụ, bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa”. Thậm chí miếng trầu - ngay cả thứ quan trọng nhất bởi có câu “miếng trầu là đầu câu chuyện” thì ở đây cũng không có. Sự thiếu thốn đã được đẩy lên đến tận cùng. Nhưng sự thiếu thốn đó không khiến cho thi sĩ buồn khổ mà còn đầy lạc quan, yêu đời. Bài thơ mang giọng điệu hóm hỉnh mà lạc quan, yêu đời.
Tuy là vật chất thiếu thốn, nhưng tình cảm bạn bè mới là thứ đáng quý nhất. Câu thơ cuối như một lời khẳng định cho tình bạn tri kỉ của Nguyễn Khuyến: “Bác đến chơi đây ta với ta”. Bà Huyện Thanh Quan cũng đã từng sử dụng cụm từ “ta với ta” trong bài Qua Đèo Ngang:
“Dừng chân đứng lại trời, non, nước
Một mảnh tình riêng ta với ta” Đại từ “ta” ở đây chỉ cùng một người, chỉ chủ thể trữ tình hay chính là tác giả. Lúc này Bà Huyện Thanh Quan đang chỉ có một mình nơi đèo Ngang hoang vu. Thời gian chiều tà gợi buồn và nỗi cô đơn, sợ hãi trước dòng thời gian trôi chảy. Không gian tuy rộng lớn nhưng chỉ toàn những vật vô tri, vô giác. Có xuất hiện hình ảnh đời sống con người nhưng hết sức thầm lặng, nhỏ bé. Âm thanh sự sống đơn điệu, gợi nỗi buồn sâu thẳm. Con người lẻ loi trước vũ trụ mênh mông. Nhớ về quê hương, thương xót cho hoàn cảnh của đất nước, trước thiên nhiên rộng lớn chỉ có mình cô độc.
Ngược lại, trong thơ Nguyễn Khuyến, đại từ “ta” thứ nhất chính là nhà thơ, còn đại từ “ta” thứ hai chỉ người bạn. Từ “với” cho thấy mối quan hệ song hành, gắn bó. “Ta với ta” đồng nghĩa với tôi với bác, chúng ta với nhau. Cuộc sống tuy nghèo khó, thiếu thốn nhưng có bạn lại thấy vui vẻ, hạnh phúc. Nhà thơ không hề cảm thấy cô đơn, buồn bã mà lại vô cùng vui vẻ, hạnh phúc. Tình bạn tri kỉ thật đáng ngưỡng mộ, cảm phục biết bao nhiêu. Như vậy, “Bác đến chơi nhà” đã khắc họa một tình bạn chân thành thật đáng ngưỡng mộ. Bài thơ khá tiêu biểu cho phong cách thơ của Nguyễn Khuyến.
Sống hòa hợp với thiên nhiên mang lại cho con người cảm giác thanh thản, bình yên và hạnh phúc. Bài thơ “Chiều xuân ở thôn Trừng Mại” đã vẽ nên một bức tranh làng quê yên ả, nơi con người gắn bó mật thiết với đất trời, mùa vụ. Những hình ảnh như “gieo dưa”, “xới đậu”, “nảy ngọn”, “xanh cây” thể hiện sự hòa quyện giữa con người và thiên nhiên trong lao động. Chính vì vậy, cuộc sống nơi thôn dã tuy giản dị nhưng lại đong đầy niềm vui và ý nghĩa. Dù không dư giả về vật chất, nhưng sự yên bình và gắn bó với thiên nhiên đã giúp con người thấy “đói cũng khuây”. Những điều đó cho thấy, hòa hợp với thiên nhiên là một cách sống bền vững và giàu giá trị tinh thần.
Bức tranh thiên nhiên trong bài thơ được tác giả miêu tả thôn dã bình dị và lồng trong đó là sự gắn kết giữa nhà thơ và người làm ruộng, là bức tranh lao động bình dị của một gia đình dân cày.
a) \(A B C D\) là hình bình hành nên hai đường chéo \(A C , B D\) cắt nhau tại \(O\) là trung điểm của mỗi đường.
Xét \(\Delta O B M\) và \(\Delta O D P\) có:
\(O B = O D\) ( giả thiết)
\(\hat{O B M} = \hat{O D P}\) (so le trong)
\(\hat{B O M} = \hat{D O P}\) (đối đỉnh)
Vậy \(\Delta O B M = \Delta O D P\) (g.c.g)
Suy ra \(O M = O P\) (hai cạnh tương ứng)
Chứng minh tương tự \(\Delta O A Q = \Delta O C N\) (g.c.g) suy ra \(O Q = O N\) (hai cạnh tương ứng)
\(M N P Q\) có hai đường chéo cắt nhau tại trung điểm của mỗi đường nên là hình bình hành.
b) Hình bình hành \(M N P Q\) có hai đường chéo \(M P ⊥ N Q\) nên là hình thoi.