Lưu Vĩnh Khang

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Lưu Vĩnh Khang
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1 Trong đời sống hiện đại, hiện tượng vô cảm đang ngày càng trở nên đáng lo ngại. Vô cảm là thái độ thờ ơ trước nỗi đau, sự bất hạnh hay khó khăn của người khác – một lối sống lạnh lùng khiến tình người bị bào mòn. Không khó để bắt gặp những hình ảnh khiến ta phải suy nghĩ: người chứng kiến tai nạn nhưng quay đi, học sinh thấy bạn bị bắt nạt nhưng im lặng, thậm chí ngay trong gia đình, nhiều người cũng không còn dành thời gian lắng nghe, chia sẻ với nhau. Nguyên nhân của vô cảm xuất phát từ áp lực cuộc sống, từ guồng quay bận rộn khiến con người chỉ nghĩ đến bản thân, từ sự xuống cấp trong nhận thức đạo đức và lối sống ích kỉ của một bộ phận không nhỏ trong xã hội. Hậu quả của vô cảm thật nặng nề: nó làm suy giảm tình thương, khiến xã hội trở nên lạnh lẽo và vô trách nhiệm. Vì thế, hơn bao giờ hết, mỗi chúng ta cần sống nhân ái hơn, biết mở lòng, biết quan tâm, biết giúp đỡ người khác bằng những hành động nhỏ nhưng chân thành. Chỉ khi xua tan được sự vô cảm, cuộc sống mới thật sự ấm áp và đầy yêu thương. Câu 2 “Chợ Đồng” là một trong những bài thơ đặc sắc của Nguyễn Khuyến viết về cảnh sinh hoạt quê hương những ngày cuối năm. Tác phẩm ngắn gọn, dung dị nhưng lại chứa đựng chiều sâu cảm xúc, thể hiện nỗi gắn bó thiết tha của nhà thơ với làng quê Bắc Bộ cùng những phong tục truyền thống quen thuộc đang dần lùi vào quá vãng. Mở đầu bài thơ, Nguyễn Khuyến gợi lại một thời điểm đặc biệt: “Tháng chạp hai mươi bốn chợ Đồng, Năm nay chợ họp có đông không?” Hai câu thơ vang lên như lời hỏi thăm chân tình giữa những người quen cũ. “Tháng chạp hai mươi bốn” không chỉ xác định thời gian mà còn gợi không khí rạo rực, tất bật của ngày giáp Tết – thời điểm người người nhà nhà chuẩn bị cho năm mới. Câu hỏi của nhà thơ mang chút bâng khuâng, thể hiện sự quan tâm đến sự đổi thay của chợ quê, đồng thời gợi lên nỗi nhớ những phiên chợ đông vui ngày xưa. Hai câu tiếp theo vẽ nên cảnh sắc mùa đông miền Bắc: “Dở trời, mưa bụi còn hơi rét, Nếm rượu, tường đền được mấy ông?” Những hạt mưa bụi lất phất, cái rét đặc trưng cuối năm như phủ lên chợ quê một lớp sương mờ lạnh giá. Nhưng giữa cái lạnh ấy, hình ảnh “mấy ông” ngồi nếm rượu dựa lưng tường đền lại gợi sự ấm áp, gần gũi. Đây là một phong tục đẹp của quê hương tác giả: các bô lão thử rượu để chọn thứ ngon nhất dâng lễ đầu năm. Nguyễn Khuyến nhắc đến phong tục ấy với sự trìu mến và trân trọng, như muốn giữ lại những giá trị cổ truyền đang dần bị thời gian phủ mờ. Tới hai câu sau, không khí chợ trở nên nhộn nhịp, tấp nập hơn: “Hàng quán người về nghe xáo xác, Nợ nần năm hết hỏi lung tung.” Từ “xáo xác” vừa diễn tả âm thanh xôn xao vừa gợi cảm giác bối rối của những ngày cuối năm. Con người hối hả mua bán, tất bật chuyện nợ nần, lo toan cho một năm sắp khép lại. Chỉ bằng vài nét chấm phá, Nguyễn Khuyến đã dựng lên một bức tranh đời sống sinh động, giản dị nhưng rất thật của chợ quê. Hai câu kết mở ra không khí rộn ràng đón xuân: “Dăm ba ngày nữa tin xuân tới, Pháo trúc nhà ai một tiếng đùng.” Một tiếng pháo vang lên như báo hiệu mùa xuân đã đến rất gần. Dù chỉ là “pháo trúc”, giản dị và mộc mạc, nhưng nó vẫn gợi sự náo nức, háo hức của con người trước thời khắc chuyển mùa. Qua âm thanh ấy, nhà thơ như cảm nhận được hơi ấm của mùa xuân đang lan tỏa, xua đi cái lạnh của những ngày cuối đông. Không khí ấy vừa gợi lòng người vừa làm sáng bừng toàn bài thơ. “Chợ Đồng” tuy ngắn nhưng chứa đựng vẻ đẹp sâu lắng của đời sống nông thôn. Bài thơ là sự hòa quyện giữa cảnh và tình: cảnh là chợ quê gần gũi, tình là nỗi nhớ, nỗi thương của Nguyễn Khuyến dành cho quê hương. Với ngôn ngữ mộc mạc, hình ảnh giản dị và giọng thơ chân thành, tác phẩm đã khắc họa rõ nét nét đẹp văn hóa truyền thống, đồng thời bộc lộ tâm hồn yêu quê tha thiết của nhà thơ. Đây chính là lí do khiến bài thơ sống mãi trong lòng người đọc.

Câu 1 (0,5 điểm) Văn bản kể về câu chuyện châm biếm thói giả dối của viên quan chỉ biết luồn cúi cấp trên và hách dịch với dân thường. Câu 2 (0,5 điểm) Từ “hách dịch” có nghĩa là thái độ hống hách, coi thường người khác, tỏ ra quyền uy và thích bắt nạt người yếu thế. Câu 3 (1,0 điểm) Câu nói của người thợ may thực chất mang ý châm biếm viên quan. Người thợ không thật sự hỏi để may áo cho vừa mà muốn mượn chuyện may áo để chỉ ra bộ mặt hai chiều của ông quan này: khi gặp cấp trên thì khom lưng, nhún nhường; còn khi gặp dân thì hống hách, coi thường. Cách nói khéo léo ấy vừa tế nhị vừa sắc bén, vạch trần sự đạo đức giả của viên quan nhưng vẫn giữ được phép tôn trọng bề ngoài. Câu 4 (1,0 điểm) Câu chuyện phê phán kiểu người nắm quyền lực nhưng thiếu đạo đức, sống giả tạo, đối xử không công bằng, luôn tìm cách nịnh bợ cấp trên và thô bạo với người dân. Đây là lớp người quan lại tha hóa, làm xấu đi bộ mặt xã hội. Câu 5 (1,0 điểm) – đoạn văn 5–7 câu Qua câu chuyện, ta có thể rút ra nhiều thông điệp có giá trị trong cuộc sống. Trước hết, mỗi người cần sống trung thực, thẳng thắn, không nên hành xử hai mặt hay thay đổi thái độ tùy theo địa vị của người khác. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, việc tôn trọng mọi người, đặc biệt là những người yếu thế, là điều cần thiết để giữ gìn nhân phẩm của chính mình. Câu chuyện cũng nhắc nhở rằng quyền lực đi kèm trách nhiệm; người có chức quyền phải biết dùng nó để giúp dân, chứ không được ức hiếp hay lợi dụng. Ngoài ra, chúng ta cần biết phê phán những hành vi giả dối, bất công để xây dựng một xã hội trong sạch và công bằng. Khi mỗi người đều biết cư xử tử tế, cuộc sống sẽ trở nên nhân văn và tốt đẹp hơn.

Cuộc sống ngày càng phát triển khiến con người trở nên lạnh lùng với những điều quen thuộc, gần gũi, trước hết là bản thân sau đó là gia đình, xã hội, đó là biểu hiện của lối sống “không chịu trách nhiệm” đáng bị chỉ trích và lên án. Ngược lại với những người sống có ý thức trách nhiệm, họ luôn cố gắng hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập. Trong gia đình, họ luôn thực hiện đúng trách nhiệm của một người con hiếu thảo với ông bà, cha mẹ. Trong xã hội, họ là những công dân mẫu mực, có ý thức bảo vệ môi trường, giúp đỡ người khác khi gặp khó khăn và chỉ trích những hành vi tiêu cực gây ảnh hưởng xấu. Bên cạnh đó, là những người sống không chịu trách nhiệm. Biểu hiện của lối sống không chịu trách nhiệm là việc sống thản nhiên với chính bản thân. Học sinh, sinh viên không quan tâm đến học tập, mà chỉ quan tâm đến việc chơi điện tử, tham gia vào các vấn đề xã hội tiêu cực, dẫn đến sự suy thoái của đạo đức và phẩm chất con người. Các trang báo điện tử thường xuyên đăng tin về các trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, bạo hành cha mẹ hoặc đuổi cha mẹ ra khỏi nhà. Đó là những người không chịu trách nhiệm với cha mẹ - những người đã sinh ra họ. Những lối sống đó hoàn toàn không tuân thủ chuẩn mực đạo đức xã hội. Trách nhiệm của cha mẹ là phải nuôi dạy con cái trở thành người có ích và trách nhiệm của con cái là phải báo hiếu và chăm sóc cha mẹ. Nếu ai đó vi phạm quy luật này, sẽ bị xã hội chỉ trích. Có lẽ những người đó mải mê theo đuổi danh vọng, tiền bạc mà đánh mất chính mình, mất đi những điều thân thuộc nhất, đó là gia đình, cha mẹ. Họ sống ích kỷ và thờ ơ với mọi thứ xung quanh. Cuối cùng, họ sẽ gặt hái được gì? Chỉ là sự thờ ơ và coi thường từ những người thân thiết với họ và từ xã hội, và rồi họ cũng sẽ không có gì trong tay khi họ bị bỏ rơi.


Bài 1: i thơ được theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật (mỗi câu 7 chữ, gồm 8 câu). Câu 2. Đối tượng trào phúng trong bài thơ là chính tác giả (Nguyễn Khuyến) – một nhà nho tự ý thức, tự cười mình trước cảnh đời và thân phận. Câu 3. “Làng nhàng”: tầm thường, không nổi bật, không ra gì. Từ này thể hiện thái độ tự trào, tự giễu, xen lẫn nỗi chán chường, bất mãn của tác giả về bản thân và cuộc sống. Câu 4. Nghệ thuật trào phúng: dùng ẩn dụ, so sánh hình ảnh đời sống đời sống dân gian (cờ, bạc) để nói chuyện đời

đời sống dân gian (cờ, bạc) để nói chuyện đời. Tác dụng: làm nổi bật tình cảnh bế tắc, thất thế, chua chát mà vẫn hài hước; thể hiện giọng cười mỉa mai, cay đắng.

Câu 5. Hai câu thơ thể hiện: Sự tự giễu, tự phê phán bản thân của tác giả. Dù có danh tiếng, học vị (bia xanh, bảng vàng) nhưng không giúp ích được gì cho đời, nên cảm thấy ngán ngẩm, day dứt.

Câu 6.

Thông điệp bài thơ, giới trẻ ngày nay cần: Không sống thờ ơ, “làng nhàng” với cuộc đời Rèn luyện tri thức, đạo đức, bản lĩnh Chủ động cống hiến bằng hành động cụ thể để xây dựng quê hương, đất nước.

2. Viết

Cuộc sống ngày càng phát triển khiến con người trở nên lạnh lùng với những điều quen thuộc, gần gũi, trước hết là bản thân sau đó là gia đình, xã hội, đó là biểu hiện của lối sống “không chịu trách nhiệm” đáng bị chỉ trích và lên án. Ngược lại với những người sống có ý thức trách nhiệm, họ luôn cố gắng hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập. Trong gia đình, họ luôn thực hiện đúng trách nhiệm của một người con hiếu thảo với ông bà, cha mẹ. Trong xã hội, họ là những công dân mẫu mực, có ý thức bảo vệ môi trường, giúp đỡ người khác khi gặp khó khăn và chỉ trích những hành vi tiêu cực gây ảnh hưởng xấu. Bên cạnh đó, là những người sống không chịu trách nhiệm. Biểu hiện của lối sống không chịu trách nhiệm là việc sống thản nhiên với chính bản thân. Học sinh, sinh viên không quan tâm đến học tập, mà chỉ quan tâm đến việc chơi điện tử, tham gia vào các vấn đề xã hội tiêu cực, dẫn đến sự suy thoái của đạo đức và phẩm chất con người. Các trang báo điện tử thường xuyên đăng tin về các trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, bạo hành cha mẹ hoặc đuổi cha mẹ ra khỏi nhà. Đó là những người không chịu trách nhiệm với cha mẹ - những người đã sinh ra họ. Những lối sống đó hoàn toàn không tuân thủ chuẩn mực đạo đức xã hội. Trách nhiệm của cha mẹ là phải nuôi dạy con cái trở thành người có ích và trách nhiệm của con cái là phải báo hiếu và chăm sóc cha mẹ. Nếu ai đó vi phạm quy luật này, sẽ bị xã hội chỉ trích. Có lẽ những người đó mải mê theo đuổi danh vọng, tiền bạc mà đánh mất chính mình, mất đi những điều thân thuộc nhất, đó là gia đình, cha mẹ. Họ sống ích kỷ và thờ ơ với mọi thứ xung quanh. Cuối cùng, họ sẽ gặt hái được gì? Chỉ là sự thờ ơ và coi thường từ những người thân thiết với họ và từ xã hội, và rồi họ cũng sẽ không có gì trong tay khi họ bị bỏ rơi.

Dù ai đi ngược về xuôi Nhớ ngày Giỗ Tổ mùng mười tháng ba” Bài ca dao đã nhắc nhở mỗi người dân Việt Nam về lòng biết ơn với các vua Hùng. Vừa qua, tôi đã được đến thăm đền Hùng cùng bố mẹ. Sáu giờ sáng, bố đã đánh thức tôi dậy. Mọi người cùng ăn sáng, sau đó chờ xe đến đón. Chuyến đi khởi hành vào lúc bảy giờ. Xe đi khoảng gần hai tiếng thì đến nơi. Tôi theo bố mẹ đi thăm quan đền Hùng. Đền Hùng là Khu Di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt nằm trên núi Nghĩa Lĩnh, xã Hy Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Từ cổng chính đi lên là Đền Hạ, theo truyền thuyết đây là nơi bà Âu Cơ sinh một bọc trăm trứng, nở ra một trăm người con tạo thành sức mạnh dân tộc Việt Nam. Lên nữa là Đền Trung nơi các vua Hùng bàn việc nước với các Lạc hầu, Lạc tướng và trên đỉnh núi là Đền Thượng với bốn chữ vàng “Nam Việt Triệu Tổ” (Tổ muôn đời nước Việt Nam). Đây là nơi Vua Hùng thờ Thánh Gióng và làm lễ tế trời đất cầu mưa gió thuận hòa, mùa màng tươi tốt, muôn dân ấm no. Cạnh Đền Thượng là ngôi Lăng nhỏ thường gọi là mộ Tổ mang ý nghĩa tượng trưng. Từ Lăng đi xuống về hướng Đông, dưới chân núi là Đền Gióng nơi xưa hai công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa con Vua Hùng thứ 18 soi gương nước trang điểm, vì thế giếng còn có tên là Giếng Ngọc. Giếng ấy nay ở trong lòng đền. Qua mỗi điểm, tôi và bố mẹ lại dừng chân để thắp hương, với mong muốn bày tỏ lòng thành kính. Cũng có rất nhiều người cũng giống như chúng tôi vậy. Có thể thấy rằng, khu di tích lịch sử Đền Hùng đã để lại những giá trị về văn hóa, kiến trúc, tâm linh. Nơi đây cũng gợi nhắc con người hướng tới truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” quý giá của dân tộc Việt Nam. Tôi càng cảm thấy tự hào về đất nước của mình nhiều hơn.

Chuyến đi tham quan này không chỉ giúp tôi hiểu biết hơn về đền Hùng mà còn giúp tôi phải biết nhớ ơn những công lao to lớn của các vị anh hùng dân tộc chúng ta.

Dòng thơ “Pháo trúc nhà ai một tiếng đùng” gợi lên niềm tin và hy vọng về một mùa xuân mới, tượng trưng cho sự khởi đầu tươi sáng và đổi thay trong cuộc sống. Niềm hi vọng chính là nguồn động lực mạnh mẽ giúp con người vượt qua khó khăn, thử thách. Khi ta có niềm tin vào tương lai tốt đẹp, dù gặp bao gian nan vẫn không dễ dàng bỏ cuộc. Niềm hi vọng giúp tâm hồn ta vững vàng, lạc quan và luôn hướng về phía trước. Chính vì thế, dù cuộc đời có nhiều biến động, ta vẫn cần giữ lấy niềm hi vọng để tìm thấy ý nghĩa và sức mạnh sống. Niềm hi vọng như ngọn đèn soi sáng trong bóng tối, giúp ta không ngừng nỗ lực và tin tưởng vào ngày mai.

Tâm trạng của tác giả trong bài thơ vừa có nét trầm tư, vừa pha chút lo toan và hồi hộp đón chờ mùa xuân. Qua cảnh chợ Đồng cuối năm với mưa bụi, cái rét còn se lạnh, tác giả cảm nhận được không khí tất bật, ồn ào của người dân chuẩn bị Tết, nhưng đồng thời cũng lo lắng cho những nợ nần, khó khăn của cuộc sống. Tuy vậy, trong lòng vẫn ẩn chứa niềm hy vọng và mong đợi khi nghe tiếng pháo báo hiệu mùa xuân sắp đến. Tâm trạng ấy thể hiện sự hòa quyện giữa thực tại khó khăn và khát khao đổi mới, ấm no trong năm mới.

Khi đến thăm khu di tích lịch sử chiến thắng Xương Giang, tôi cảm thấy một niềm tự hào và kính trọng vô hạn đối với những chiến công của ông cha ta trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược. Khu di tích không chỉ là một chứng tích lịch sử mà còn là nơi ghi dấu những chiến thắng oanh liệt của quân dân ta trong trận chiến Xương Giang vào năm 1427, dưới sự chỉ huy của danh tướng Nguyễn Trãi. Tại đây, tôi có thể cảm nhận được không khí linh thiêng, trang nghiêm, khi đứng trước những di tích còn lại và những mô hình tái hiện cảnh trận chiến. Những câu chuyện về lòng dũng cảm, sự kiên cường của quân và dân ta trong trận đánh Xương Giang khiến tôi thêm trân trọng và tự hào về truyền thống đấu tranh bất khuất của dân tộc. Cảnh vật xung quanh khu di tích, với những cây cối xanh tươi và không gian yên bình, khiến cho tôi càng thêm suy ngẫm về sự gian khổ mà các thế hệ đi trước đã phải trải qua để giành lại độc lập cho đất nước. Đi thăm khu di tích này không chỉ giúp tôi hiểu thêm về lịch sử, mà còn khiến tôi cảm nhận sâu sắc hơn về giá trị của tự do, hòa bình mà chúng ta đang có hôm nay.

Câu 1: Thể thơ: Thất ngôn xen lục ngôn

Câu 2: Hòe lục đùn đùn tán rợp giương

Thạch lưu hiên còn phun thức đỏ

Hồng liên trì đã tiến mùi hương

Câu 3:Biện pháp đảo ngữ ở các từ ''lao xao chợ cá '',''Dắng dỏi cầm ve" -Làm nổi bật âm thanh rộn rã ,sinh động của cảnh vật -Gợi lên không khí náo nhiệt của cuộc sống con người giữa thiên nhiên mùa hè -Thể hiện niềm vui , tình yêu đời và hòa hợp giữa con người với thiên nhiên

Câu 4:Nguyễn trãi bộc lộ:

- Tấm lòng yêu nước sâu sắc

- Đồng thời thể hiện tâm hồn thanh cao, yêu đời luôn hướng về dân

Câu 5:Chủ đề :Bài thơ thể hiện niềm vui ,niềm say mê trước vẻ đẹp của thiên nhiên mùa hè và tấm lòng yêu nước , thương dân của Nguyễn Trãi +Căn cứ :Dựa vào bức tranh thiên nhiên rực rơ ,âm thanh cuộc sống vui tươi và ước nguyên vì dân trong hai câu thơ cuối

Câu 6: Từ niềm vui giản dị mà Nguyễn Trãi cảm nhận đc trong bài ''cảnh ngày hè '',em hiểu ràng hạnh phúc ko ở đâu xa mà chính là bt yêu quý ,trân trọng những điều bình dị quanh mình . Chúng ta cần sống hòa hợp với thiên nhiên , biết tận hưởng vẻ đẹp của cuộc sống mỗi ngày .Giữ cho tân hồn lạc quan ,trong sáng ,dù trong hoàn cảnh nào cũng nên hướng về điều tốt đẹp .Họ tập tấm gương Nguyên trãi ,em thấy cần sống chân hòa ,biết yêu người và yêu cuộc sống hơn

Việc sống hòa hợp với thiên nhiên có ý nghĩa lớn lao. Chúng ta phải nhớ rằng chúng ta là một phần của tự nhiên và phụ thuộc vào nó để tồn tại. Sự tôn trọng và bảo vệ môi trường tức là chúng ta đang bảo vệ cuộc sống của chính mình. Chúng ta cần giảm thiểu tác động của mình đối với hành tinh, bảo vệ đất đai, không khí và nước, để đảm bảo một tương lai bền vững cho thế hệ tương lai. Sống hòa hợp với thiên nhiên cũng giúp chúng ta có cơ hội tận hưởng vẻ đẹp tự nhiên và tạo ra một môi trường sống lành mạnh cho tất cả các loài trên trái đất. Nếu không sống hòa hợp với thiên nhiên, sức khỏe thể chất và tinh thần của con người đều sẽ bị ảnh hưởng. Do đó, hãy có lối sống chan hòa và kết nối cùng thiên nhiên để có những khoảnh khắc đẹp trong đời.