Hoàng Thùy Dương

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Hoàng Thùy Dương
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Trong cuộc đời học sinh, chắc hẳn ai cũng từng có những chuyến đi để lại nhiều kỉ niệm đáng nhớ. Với em, chuyến tham quan đến Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh do nhà trường tổ chức vào cuối năm học lớp 7 là một kỉ niệm sâu sắc và thiêng liêng nhất.

Sáng hôm ấy, từ rất sớm, sân trường đã rộn ràng tiếng nói cười. Ai cũng háo hức, chuẩn bị đầy đủ áo đồng phục, mũ ca-nô và khăn quàng đỏ. Khi chiếc xe khởi hành, không khí trên xe tràn ngập niềm vui. Dọc hai bên đường, những hàng cây xanh mướt nối tiếp nhau chạy dài, xen lẫn là những mái nhà, con phố thân quen của Thủ đô. Em ngồi cạnh bạn thân, lòng hồi hộp xen lẫn niềm xúc động khi sắp được đến viếng vị cha già kính yêu của dân tộc.

Khi đến Quảng trường Ba Đình, nơi Lăng Bác tọa lạc, chúng em được thầy cô nhắc nhở phải giữ trật tự, đi nhẹ, nói khẽ. Trước mắt em là công trình uy nghi, trang nghiêm giữa nền trời xanh. Hàng người xếp hàng dài, chậm rãi bước vào trong lăng. Không gian tĩnh lặng đến nỗi em có thể nghe thấy cả tiếng bước chân của mình. Khi được tận mắt nhìn thấy Bác nằm yên nghỉ trong lăng kính sáng, lòng em bỗng dâng lên một cảm xúc khó tả – vừa xúc động, vừa tự hào, vừa thương nhớ. Em thấy hình ảnh Bác thật hiền từ, giản dị như những câu chuyện em từng nghe, từng học.

Sau khi viếng Bác, chúng em được tham quan Bảo tàng Hồ Chí Minh và Khu nhà sàn – nơi Bác từng sống và làm việc. Mọi vật ở đó đều đơn sơ: chiếc giường gỗ nhỏ, bộ bàn ghế mộc mạc, đôi dép cao su đã cũ… Nhưng chính sự giản dị ấy lại khiến em càng thêm kính phục và yêu quý Bác hơn. Em hiểu rằng, đằng sau những điều giản dị ấy là cả tấm lòng yêu nước bao la và cuộc đời hi sinh trọn vẹn vì dân, vì nước của Người.

Buổi trưa, cả lớp cùng nhau ăn trưa trong khuôn viên rợp bóng cây. Tiếng nói cười vang lên khắp nơi, nhưng ai cũng giữ lại trong lòng một cảm xúc thiêng liêng khó quên. Trên đường trở về, em ngồi lặng yên bên cửa sổ, để mặc cho gió mơn man mái tóc. Em thầm nghĩ: “Mình phải cố gắng học thật giỏi, trở thành người có ích để xứng đáng với công ơn của Bác.”

Chuyến đi ấy tuy chỉ kéo dài một ngày, nhưng đã để lại trong em những ấn tượng thật sâu sắc. Em không chỉ được mở rộng hiểu biết về lịch sử dân tộc, mà còn học được bài học quý giá về lối sống giản dị, khiêm nhường và tinh thần hi sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là một chuyến tham quan không chỉ mang lại niềm vui, mà còn là hành trình giúp em trưởng thành hơn trong suy nghĩ và trong tình yêu quê hương, đất nước.

Niềm hi vọng là ngọn lửa thắp sáng trong trái tim con người, giúp ta có thêm sức mạnh để vượt qua những khó khăn, thử thách trong cuộc sống. Khi đối mặt với gian nan, nếu ta giữ vững niềm tin và hi vọng, ta sẽ không gục ngã mà luôn tìm thấy con đường để bước tiếp. Giống như tiếng pháo báo hiệu mùa xuân trong câu thơ của Nguyễn Khuyến, hi vọng mang đến cho con người cảm giác ấm áp, tươi mới và niềm tin vào những điều tốt đẹp sắp tới. Cuộc sống không bao giờ thiếu những lúc tối tăm, nhưng chỉ cần còn hi vọng, ta vẫn sẽ thấy ánh sáng ở phía trước. Bởi vậy, hãy luôn nuôi dưỡng niềm hi vọng trong tim – vì đó chính là sức mạnh giúp con người vươn lên, vượt qua mọi nghịch cảnh để hướng tới tương lai tốt đẹp hơn.

Tâm trạng của tác giả trong bài thơ “Chợ Đồng” là sự đan xen giữa nỗi buồn man mác, hoài niệmniềm hy vọng mong manh khi xuân sắp về. Trong những câu thơ đầu, Nguyễn Khuyến gợi lại không khí chợ quê ngày cuối năm với cảnh “mưa bụi còn hơi rét”, “hàng quán người về nghe xáo xác”, thể hiện một nỗi buồn lặng lẽ, cô đơnniềm thương nhớ quá khứ. Cảnh chợ không còn nhộn nhịp như xưa, chỉ còn lại âm thanh thưa thớt, gợi cảm giác vắng vẻ, hiu hắt. Thế nhưng, ở cuối bài thơ, khi tác giả nhắc đến “dăm ba ngày nữa tin xuân tới, pháo trúc nhà ai một tiếng đùng”, giọng thơ bỗng trở nên ấm áp, vui tươi hơn, thể hiện niềm mong chờ mùa xuân và sự khởi đầu mới. Như vậy, tâm trạng của tác giả vừa buồn, vừa chan chứa tình yêu quê hương, vừa ẩn chứa niềm tin và hy vọng vào cuộc sống.

câu 1

-bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú đường luật (7 chữ ,8 câu)

câu 2

các hình ảnh thiên nhiên được nhắc đến gồm :

-Hòe lục đùn đùn tán rợp giương

-Thạch lựu còn phun thức đỏ

-Hồng liên trì đã tiễn mùi hương

-cùng với âm thanh tiếng ve kêu râm ran trong nắng hè

câu 3

+ Biện pháp đảo ngữ ở các từ ''lao xao chợ cá '',''Dắng dỏi cầm ve ''

-làm nổi bật âm thanh rộn rã ,sinh động của cảnh vật

-gợi lên không khí náo nhiệt của cuộc sống con ng giữa thiên nhiên mùa hè

-thể hiên niềm vui , tình yêu đời và hòa hợp giữa con người với thiên nhiên

câu 4

+ Nguyễn trãi bộc lộ :

-tấm lòng yêu nước , thương dân sâu sắc

-mong ước cuộc sống no đủ ,thái bình cho nhân dân

-đồng thời thể hiện tâm hồn thanh cao , yêu đời ,luôn hướng về dân

câu 5

+chủ đề : bài thơ thể hiện niềm vui ,niềm say mê trước vẻ đẹp của thiên nhiên mùa hè và tấm lòng yêu nước , thương dân của Nguyễn Trãi

+căn cứ :dựa vào bức tranh thiên nhiên rực rơ ,âm thanh cuộc sống vui tươi và ước nguyên vì dân trg hai câu thơ cuối

câu 6

Từ niềm vui giản dị mà Nguyễn Trãi cảm nhận được trong bài ''cảnh ngày hè '',em hiểu ràng hạnh phúc không ở đâu xa mà chính là bt yêu quý ,trân trọng những điều bình dị quanh mình .Chúng ta cần sống hòa hợp với thiên nhiên , biết tận hưởng vẻ đẹp của cuộc sống mỗi ngày .Giữ cho tân hồn lạc quan ,trong sáng ,dù trong hoàn cảnh nào cũng nên hướng về điều tốt đẹp .Họ tập tấm gương Nguyên trãi ,em thấy cần sống chân hòa ,biêt yêu người và yêu cuốc sống hơn


Nhân dịp kỉ niệm ngày thành lập trường, để giúp chúng em hiểu thêm về truyền thống lịch sử dân tộc, nhà trường đã tổ chức một chuyến tham quan về nguồn đến Khu di tích lịch sử Đền Hùng – nơi thờ các Vua Hùng, những người có công dựng nên nước Văn Lang đầu tiên. Đó là một chuyến đi không chỉ mang lại cho em nhiều kiến thức bổ ích, mà còn để lại trong em những cảm xúc sâu sắc và kỉ niệm khó quên.

Từ sáng sớm, sân trường đã rộn ràng tiếng nói cười. Ai nấy đều mặc đồng phục chỉnh tề, đeo khăn quàng đỏ, trên vai là chiếc balo nhỏ đựng đồ ăn và nước uống. Khi thầy cô điểm danh xong, chúng em nhanh chóng lên xe. Trên đường đi, không khí thật náo nhiệt: có nhóm hát hò, có nhóm kể chuyện, có nhóm lại tranh thủ chụp ảnh kỉ niệm. Ngoài cửa sổ, cảnh vật dần thay đổi – những con đường trải dài, những cánh đồng xanh mướt, những ngôi làng yên bình hiện ra dưới ánh nắng sớm, khiến ai cũng cảm thấy háo hức hơn.

Sau gần hai tiếng đồng hồ, xe chúng em dừng lại dưới chân núi Nghĩa Lĩnh. Không khí nơi đây thật trong lành, gió mát rượi, mang theo hương thơm dịu nhẹ của hoa rừng. Ngước nhìn lên, những bậc đá uốn lượn dẫn đến ngôi đền cổ kính thấp thoáng giữa rừng cây xanh ngắt. Dưới sự hướng dẫn của cô giáo chủ nhiệm và anh hướng dẫn viên, chúng em bắt đầu hành trình leo núi.

Trên đường đi, anh hướng dẫn viên kể cho chúng em nghe về sự tích các Vua Hùng, về thời kỳ dựng nước Văn Lang và truyền thuyết Lạc Long Quân – Âu Cơ. Mỗi câu chuyện như một trang sử sống động hiện ra trước mắt, giúp em hiểu rằng đất nước ta đã trải qua biết bao gian khổ để có được ngày hôm nay. Dù đường leo dốc có hơi mệt, nhưng ai cũng kiên trì, bởi trong lòng đều có một cảm giác thiêng liêng khó tả.

Khi đến đền Thượng – nơi thờ các Vua Hùng, chúng em xếp hàng ngay ngắn, dâng hương tưởng nhớ tổ tiên. Khói hương bay nghi ngút giữa không gian tĩnh lặng, tiếng chuông chùa vang lên trầm bổng khiến lòng em bỗng chùng xuống. Em chắp tay khấn nguyện, thầm hứa sẽ cố gắng học tập thật tốt để xứng đáng với công ơn của các bậc tiền nhân đã dựng xây đất nước.

Sau khi tham quan các khu đền, chúng em cùng nhau ăn trưa trong khuôn viên rợp bóng cây. Tiếng cười nói vang lên khắp nơi, bạn thì chia sẻ đồ ăn, bạn thì kể lại những điều thú vị vừa nghe được. Buổi chiều, thầy cô cho chúng em tự do chụp ảnh, ngắm cảnh, ghi lại những khoảnh khắc đẹp của chuyến đi. Ai cũng muốn lưu giữ lại một chút gì đó – có thể là chiếc lá vàng rơi, một tấm ảnh chụp cùng bạn bè, hay chỉ đơn giản là nụ cười rạng rỡ giữa đất trời linh thiêng.

Trên đường trở về, xe lăn bánh trong ánh hoàng hôn đỏ rực. Ngoài cửa sổ, những ngọn núi mờ dần sau rặng mây, gió chiều khẽ thổi khiến em thấy lòng mình bỗng yên bình lạ. Dù có hơi mệt sau một ngày dài, nhưng trong tim em vẫn ngập tràn niềm tự hào và xúc động.

Chuyến tham quan về nguồn ấy không chỉ giúp em mở rộng hiểu biết, mà còn khiến em cảm nhận sâu sắc hơn về cội nguồn dân tộc, về công lao của cha ông. Em nhận ra rằng mỗi di tích, mỗi tấc đất quê hương đều thấm đẫm mồ hôi, xương máu của biết bao thế hệ đi trước. Em sẽ luôn ghi nhớ chuyến đi này – một kỉ niệm đáng trân trọng trong những năm tháng học trò tươi đẹp của mình.

Bài thơ ''Bạn đến chơi nhà'' là một trong những tác phẩm tiêu biểu của nhà thơ Nguyễn Khuyến – người được mệnh danh là “nhà thơ của làng cảnh Việt Nam”. Qua bài thơ, tác giả đã thể hiện tình bạn chân thành, thắm thiết và phong cách thơ hóm hỉnh, tự nhiên mà sâu sắc.

Mở đầu bài thơ, tác giả nói về hoàn cảnh tiếp bạn:
''Đã bấy lâu nay bác tới nhà,
Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa.''
Hai câu thơ mở ra không khí thân tình, mộc mạc. Nhà thơ nói chuyện với bạn bằng giọng tự nhiên, giản dị như lời tâm sự hằng ngày. Cách xưng hô ''bác – ta'' thể hiện sự gắn bó thân mật giữa hai người bạn tri kỷ.

Những câu thơ tiếp theo liệt kê hàng loạt sự thiếu thốn:
''Ao sâu nước cả, khôn chài cá,
Vườn rộng rào thưa, khó đuổi gà.
Cải chửa ra cây, cà mới nụ,
Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa.''
Nguyễn Khuyến đã khéo léo dùng giọng điệu dí dỏm, hóm hỉnh để miêu tả cảnh nghèo khó mà vẫn đầy tình cảm. Càng kể thiếu, lại càng thấy tình bạn của ông không hề bị chi phối bởi vật chất. Những hình ảnh dân dã như “ao sâu, vườn rộng, bầu, mướp, cà, cải” mang đậm hơi thở thôn quê, tạo nên phong vị quê hương gần gũi, chân thật.

Câu kết:
“Đầu trò tiếp khách, trầu không có,
Bác đến chơi đây, ta với ta.”
là điểm sáng của bài thơ. Tưởng như tác giả than nghèo, nhưng thực ra đó là lời nói chân tình, tự nhiên, biểu lộ niềm vui mừng khi gặp lại bạn cũ. Câu thơ “ta với ta” chứa chan tình tri kỷ: không cần lễ vật, không cần hình thức, chỉ cần có tấm lòng là đủ.

“Bạn đến chơi nhà” là bức tranh nhỏ về cuộc sống quê nghèo nhưng đượm tình người, đậm hồn quê Việt. Bài thơ giúp ta hiểu thêm về tình bạn tri âm tri kỷ giản dị mà sâu nặng, một nét đẹp vĩnh hằng trong tâm hồn con người Việt Nam.

Bài thơ ''Chiều xuân ở thôn Trừng Mại''gợi cho ta thấy vẻ đẹp bình dị của làng quê và cuộc sống hòa hợp với thiên nhiên. Con người cùng thiên nhiên chan hòa, gắn bó trong lao động hằng ngày. Sống hòa hợp với thiên nhiên giúp con người cảm thấy thanh thản , vui vẻ và yêu đời hơn. Thiên nhiên là nguồn sống nuôi dưỡng cả thể chất lẫn tâm hồn, giúp con người biết trân trọng và gìn giữ cuộc sống. Mỗi người chúng ta cần bảo vệ môi trường, yêu quý cây cối , đất trời để cuộc sống luôn xanh tươi và bình yên.

Bức tranh thiên nhiên hiện lên thật thanh bình , tươi sáng và giàu sức sống của làng quê Việt Nam vào buổi chiều xuân . Không gian có mưa phùn phất , ruộng khoai , khóm mía , giậu tre là những hình ảnh quen thuộc và giản dị . Thiên nhiên hòa quyện vào cùng con người cần mẫn : người giục trâu cày, nàng dâu gieo dưa , bà lão xới đậu tạo nên không khí ấm áp , vui tươi , tràn đầy sinh khí mùa xuân . Bức tranh thiên nhiên trong bài thơ là bức tranh mùa xuân ở nông thôn , giản dị mà tràn đầy sức sống . Qua đó , tác giả thể hiện niềm yêu mến cuộc sống thôn quê , niềm vui và sự thanh thản trong lao động

 \(A B C D\) là hình bình hành nên \(A B = D C\) suy ra \(\frac{1}{2} A B = \frac{1}{2} D C\)

Do đó \(A M = B M = D N = C N\).

Tứ giác \(A M C N\) có \(A M\) // \(N C , A M = N C\) nên là hình bình hành.

Lại có \(\Delta A D C\) vuông tại \(A\) có \(A N\) là đường trung tuyến nên \(A N = \frac{1}{2} D C = D N = C N\).

Hình bình hành \(A M C N\) có hai cạnh kề bằng nhau nên là hình thoi, khi đó hai đường chéo \(A C , M N\) vuông góc với nhau.

Tứ giác \(A M C N\) là hình thoi.


 \(A B C D\) là hình bình hành nên \(A B = D C\) suy ra \(\frac{1}{2} A B = \frac{1}{2} D C\)

Do đó \(A M = B M = D N = C N\).

Tứ giác \(A M C N\) có \(A M\) // \(N C , A M = N C\) nên là hình bình hành.

Lại có \(\Delta A D C\) vuông tại \(A\) có \(A N\) là đường trung tuyến nên \(A N = \frac{1}{2} D C = D N = C N\).

Hình bình hành \(A M C N\) có hai cạnh kề bằng nhau nên là hình thoi, khi đó hai đường chéo \(A C , M N\) vuông góc với nhau.

Tứ giác \(A M C N\) là hình thoi.